Sự hình thành chữ Nôm (Việt Nam)

Thảo luận trong 'Trao đổi, gắn kết, giao lưu.' bắt đầu bởi Đinh Xuân Vinh, 31/3/17.

  1. Đinh Xuân Vinh Moderator

    Ngày tham gia:
    2/11/09
    Số bài viết:
    383
    Chu Nom 111.jpg
    " Lời quê chắp nhặt dông dài
    mua vui cũng được một vài trống canh"
    Nguyễn Du
    .
    SỰ HÌNH THÀNH CHỮ VIỆT

    Chữ Nôm là cách viết biểu ý ngày xưa của tiếng Việt. Sau khi dân tộc ta thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm lần đầu tiên thành chữ quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt ta, qua mẫu tự biểu ý. Hơn 1.000 năm sau đó, từ thế kỷ 10 cho đến thế kỷ 20, một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chánh được viết bằng chữ Hán, Nôm.
    Nói cách khác, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ, mặc dù đó là công cụ còn chưa đủ tính hữu hiệu và phổ dụng của nó so với chữ Hán.
    Giải thuyết có thể trong lịch sử, chữ Nôm đã tạo ra từ những năm đầu khi vó ngựa viễn chinh của phương Bắc đến Việt Nam. Nhưng chữ Nôm đầu tiên được sử dụng để chỉ cách gọi địa danh, hoặc những khái niệm không tồn tại trong Hán văn, mặc dù điều này do những cứ liệu thành văn còn lại hết sức ít ỏi, đã không thể được kiểm chứng một cách chính xác.
    Vậy người Việt ta biết chữ Hán từ thời nào, có ý kiến cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Song có ý kiến lại cho rằng chữ Nôm có từ thời cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Dựa vào hai chữ 佈蓋"bố cái" trong cụm từ 佈蓋大王"Bố Cái đại vương" cùng có người lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ 8. Có ý kiến khác lại dựa vào chữ "cồ"(cái lưới to) trong quốc danh 大罛越 "Đại Cồ Việt" để đoán định chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu những năm 90 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới khẳng định âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán), bắt nguồn từ thời Đường-Tống thế kỷ 8-9. Nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống, thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi hình thành cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) mà chỉ có thể ra đời sau thế kỷ thứ 10 khi Việt Nam thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền. Trước đây ông nội tôi dậy viết chữ Hán nôm, phát âm tiếng Việt như thiên:[IMG] trời, địa : đất, cử: cất tồn:còn…không phát âm theo người Hán. Chữ Hán nôm hiện nay đang có nguy cơ tiêu vong. Sau khi chữ quốc ngữ được phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Chính quyền thực dân Pháp có chính sách cấm dùng chữ Nôm. Ngày nay, trên thế giới có rất ít người đọc được chữ Nôm. Một phần to tát của lịch sử Việt Nam như thế nằm ngoài tầm tay của hơn 90 triệu người nói tiếng Việt. mà hiện nay có xu thế dùng chữ anh, chữ Hàn, Người Việt ta hay có thói quen “ yêu thì củ ấu cũng tròn, ghét quả bồ hòn cũng méo”. Không ưa thì dưa hóa dòi… có người nói bây giờ các chùa, đinh ở đảo Trường Sa và Hoàng Sa ghi bằng chữ quốc ngữ để khảng định chủ quyền là cuả Việt Nam, nếu bây giờ mới xây thì ghi bằng chữ Việt là đúng.Trước đây thời Nhà Nguyễn khai phá, mở cõi, trong các văn bia ghi lại đều là chữ hán, nôm, rồi có người nói phải ghi tên họ họ mình bằng chữ Việt,… để con cháu mới hiểu, cái này dể hiểu thôi, trong giấy khai sinh phải ghi họ tên bằng quốc ngữ là đúng , còn tên dòng họ họ mình phải bằng chữ hán, như họ Nguyễn, họ Phạm, họ Đặng họ Vũ. Trừ khi họ nào bây giờ mới thành lập thì ghi bằng chữ Việt bây giờ thôi, vì khi xuất hiện các dòng họ khi đó chưa có chữ quốcngữ gốc chữ la tinh như bây giờ, hiện nay các dòng họ đều dùng logoo có chữ hán, nôm. Để khảng định họ mình có hàng nghìn năm. Như một số logo trên facebook ghi bằng chữ người họ…. rồi hô khẩu hiệu…
    Văn hóa là một khái niệm mang rất rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, rất khó để các nhà nghiên cứu tìm một định nghĩa bao quát, nhưng nó cũng rất gần gũi vì nó liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần và cách ứng xử của mỗi dân tộc, tạo nên các nền văn hóa khác nhau. Vì vậy, văn hóa đang được xem là một nhân tố quan trọng của sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay.
    “ Nếu chúng ta không sống với quá khứ của mình thì khó có được hiện tại tốt đẹp, mà hiện tại không tốt đẹp thì không biết tương lai sẽ ra sao” Phạm Văn Đồng.

    Chữ Nôm ra đời có ý nghĩa hết sức lớn lao, đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức tự cường và khẳng định vai trò, địa vị của tiếng Việt. Như mọi người đều biết, tiếng Việt của chúng ta rất giàu hình ảnh, là tiếng nói của nhân dân, là lời văn trong sáng của các nhà ngoại giao và là ngôn ngữ cảm xúc văn học trong các sáng tác của các nhà thơ, nhà văn và là kho tàng ca dao trong sáng tác văn học dân gian. Tiếng Việt của chúng ta giàu tình cảm, nhiều màu sắc và âm điệu, phản ánh tâm hồn trong sáng và cốt cách vĩ đại của nhân dân Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử.
    Ví dụ như trong tiếng Việt ngày nay viết chữ đồng minh, thì chưa rõ nghĩa, có người hiểu đồng là cùng, minh là sáng… còn trong chữ Hán nôm 同盟 đồng minh,đồng là cùng, còn chữ minh , gồm trên chữ minh là sáng, dưới chữ huyết là máu, nghĩa là cùng uống máu ăn thề cùng một chí hướng, cùng một phé phái… như chữ trời gồm chữ thiên là trời, dưới chữ thượng, tạo thành chữ [IMG]trời, thì người Viết hiểu đây là chữ[IMG] trời.
    Chữ Hán nôm mặc dù hiện nay chúng ta không sử dụng trong các văn bản hành chính, song nó vẫn tồn tại. Trải qua những biến động thăng trầm của thời gian và lịch sử, chữ Hán Nôm vẫn tồn tại, trở thành biểu tượng của đất nước và dân tộc Việt Nam.
    Người đưa tin

    Đinh Xuân VinhHọ Đinh Đông An - Nam Định

Chia sẻ trang này