Họ Đinh ở Văn Giai Thanh Khai Thanh Chương Nghệ An

Thảo luận trong 'Họ Đinh tại Thanh Chương, Nghệ An' bắt đầu bởi nhohodinh, 8/8/10.

  1. nhohodinh Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    27/7/10
    Số bài viết:
    4
    Địa điểm:
    1C Đặng thái Thân Hà Nội
    GIA PHẢ HỌ ĐINH
    Xã Thanh Khai , huyện Thanh Chương , Nghệ An

    Lời tựa
    Trộm nghĩ cây muôn lá ngàn cành cùng chung cội rễ,nước ngàn giòng muôn lạch cùng chung một nguồn .Vạn vật còn thế huống chi con người, có sinh chưng có tổ. Tự ngàn xưa họ Đinh ta tổ tiên ta gây dựng ở đât Ninh bình, huyện Gia viễn, động Hoa lư, dòng giống Đinh Tiên Hoàng. Sau đó tiên tổ ta tức Hùng Duệ Đại Vương di cư đến ở xứ Sơn nam ,phủ Thường tín, huyện Thượng phúc ,Tæng Phượng Dực , xã Phượng vũ ,tỉnh Hà đông .nay nơi ấy còn con cháu đông đúc phồn thịnh. Tổ ta sinh ra bốn con trai. Tiên tổ ta giữ chức thống lĩnh Thanh hoa đạo, Tuyên Đức hầu, thừa hành công vụ đến Nghệ an, huyện Đông thành sinh ra tổ chín đời của họ ta (chức Thuỷ đạo tiên phong ) cùng Thái phó Tấn quốc công điều binh đến sông Gang . Sinh hạ tổ tám đời, thống lĩnh chức thuỷ bộ đạo tiên phong , lấy vợ làng Văn giai sinh ra tổ bảy đời sáu đời, đều là kẻ hùng trưởng một phương ,thọ bảy tám mưoi tuổi . Hiện nay phần mộ còn đầy đủ nhưng ngày giỗ không rõ. Ta sinh sau nhớ về cội nguồn, cùng nhánh dòng ấy sợ càng xa càng càng sai càng sót; nhân có người cùng họ,dòng chi thứ, là quan Chiêm sự Liên trung hầu có để lại quyển sổ bèn làm ra quyển gia phả này. Nó không được chi tiết từ đầu, nhưng cũng để đời sau theo đó để biết việc trước. Đến triều Minh mệnh thứ năm(1825 ), hạ tuần mùa đông làm lời tựa .Chi thứ ở thôn Quỳnh Đôi, cử nhân khoa Ât dậu, giáo thụ phủ Tĩnh Gia ,thăng đốc học Thanh hoá, Đinh nguyễn Sưởng làm bài tựa. Con trai Đinh hiên Khoát , tú tài khoa Ât dậu viết.
    Bản Di kí
    Năm Kỷ mùi, (1790 )ngày mùng một tháng năm, quan đại phu viện Chiêm sự,chức Thiếu chiêm sự, kiêm Chưởng sự , vụ Nội tán thược sự , Liên trung hầu ( tức Đinh trọng Liên ) làm di chúc để lại cho vợ là Nguyễn thị Khoát, cháu là Đinh hữu Dực và cả họ biết .
    Than ôi! Người có tổ như cây có rễ, nhà có gia phổ như nước có sử. Vì vậy nên ta đã làm một bản di chúc thuật lại công đức tổ tông, lịch sử các chi ngành làm chỗ dựa cho các đời sau noi theo . Nguyên cha mẹ ta sinh ra trai gái mười một người. Ta là con thứ, sinh năm Nhâm tí (1732 ), tháng mười một ngày mồng một, giờ tí. Mới được 10 tuổi chẳng may cha mẹ mất sớm .Vào đời Cảnh Hưng nhà Lê ( 1740-1786 ) , lúc 13 tuổi theo ông bác tức Thanh trung hầu đến ở thị trấn xứ Sơn Nam, vừa may gặp quan Chiêm sự Tuyển trung tử người Kinh Bắc xã Nội Duệ. Ông nhận ta làm con nuôi và đem về xứ ấy cho đi học. Đến khi ta mười sáu tuổi ông cho ta làm chức Cai Hợp đặt tên là Cai Đạc. Chẳng may cha nuôi mất, ta ở với mẹ nuôi . Chưa hết tang, ta được gặp quan tri phủ Thường tín , người xứ Sơn Nam ,huyện Thượng Phúc , xã Phượng Vũ ,Thôn Phượng Dực , giáp Đồng Thọ đến đặt lễ phúng điếu, gặp ta có lòng yêu mến và hỏi tên họ quê quán. Ta trình với ông rằng: ta vốn người Nghệ an, phủ Anh Đô, huyện Nam Đàn, xã Hoa ổ, tổng Hoa lâm, làng Văn giai, họ Đinh. Lúc ấy ông phấn khởi thốt lên: Trời ơi! Ông bèn đem ta theo về Phượng Dực. Ông hỏi: có biết tổ tiên ra sao? Cha anh ta thường kể với ta: nguyên tổ ta ở Ninh bình, huyện Gia viễn động Hoa lư, con cháu vua Đinh tiên Hoàng. Đến đời nhà Lê, ông Hùng dụê Đại vương dời về xứ Sơn Nam, phủ Thường Tín, xã Phượng Dực, phần mộ táng ở giáp Đồng Thọ. Vợ chồng sinh được 4 trai 2 gái. Con trai đầu là ông Võ Tước, thứ 2 là Hậu sinh, thứ 3 là Huyện thừa, thứ 4 là Trương xã. Ông biết ta con cháu thân gần lấy gia phả cho ta xem. Ta biết tổ ta bản mệnh Giáp Thân (1404), làm quan đến Tổng binh phòng Ngự sử Đinh tướng công, tự Phúc Khê, Thuỵ Quảng Uy tiên sinh, thọ 79 tuổi. Sau khi người mất, Hùng Duệ đại vương đến ở xứ Sơn Nam, chôn người ở xứ ấy, ngày giỗ 1/1.
    Lại nói tổ ta lấy 2 vợ tên là Trinh Tư và Từ Hoan. Nay trong gia phả các nhà ghi sót tên một trong hai người. Ông Hùng Duệ con của một trong hai bà, không biết của bà nào?( thực ra thì phải là con của bà hai vì ông được sinh ra khi cha đã 76 tuổi thì bà cả không còn khả năng sinh đẻ nữa, vả lại cái cách chôn hai bà cùng một chỗ trang trọng thì cũng biết vị trí của bà hai thế nào, vì theo quan niệm xưa vợ lẽ ( thiếp ) không có giá trị gì ) Một bà ở giáp Đồng thọ, một bà ở giáp Nhị Ngũ. Lại nói tổ ta : Đặc tiến Kim tử tán trị công thần, Phù Nam Vệ, Chỉ huy Thiêm sự Đinh tướng công. Tự là Cương Chính , tặng phong Hùng Duệ (có thể dịch là Nhuệ ,vì 2 chữ là một ) đại vương. Tên huý là Tuấn, bản mệnh Canh tý (1480), bị chết trận, chiêu hồn trở táng ớ bên trái mộ tổ ông ( ở xứ đê Hương Án ,Phượng Dực Phú Xuyên Hà Tây –ghi thêm , Đinh xuân Hường ) (ngày Giỗ 11/11). Ông là người kiên trung tiết nghĩa, kiêu dũng hơn nguời. thường hay du ngoạn ở các hội đám chay ở xã Nghiêm xá, hai tay xách hai hòn đá, người người đều lấy làm lạ. Lớn lên làm quan đến Chỉ huy Thiêm sự, là tướng có tiếng trong đời. Ông đem quân thuộc Phù Nam vệ đến xứ Châu Cầu (bản chữ Hán tại Nghệ An ghi là Cầu Châu ,bản ở Phượng Dực ghi là xã Châu Kiều , Kim Bảng , nay là thị xã Phủ Lý Hà Nam-ghi thêm Đinh xuân Hường) để đánh giặc. Lúc đó thống binh của đạo khác tháo chạy đến Châu Cầu, quân lính tan rã. Tổ đại vương ta một mình mang gươm qua cầu phao 16 khoảng, thẹn vì thua trận bị địch bắt mà tự vẫn, quân lính cũng tuẫn tiết theo. Nước sông nhuộm máu đỏ lòm. Lúc ấy bà Dương Thị Từ yên cung nhân đến chỗ chiến trường, dựa vào nốt ruồi lớn ở vai ông tìm xác không thấy, chiêu hồn trở táng ở xứ Đăng hương án, bên trái mộ cụ Phúc Khê để phụng thờ tế tự. Lúc ấy linh hồn ông hiển ứng, thăng dương chỉ phán, giúp dân Châu Cầu yên ổn, của hưng vật thịnh. Dân Châu Cầu cúng tế, xin sắc phong Thượng đẳng thần, đời đời lập hương hoả, một thửa ruộng tế ở xứ Ngọ Lâm (trong bản của Phượng Dực là Ngõ Xum) , một ở xứ Đường Lội, một sào 5 thước. Lại nói bà Dương thị hiệu Từ Yên cung nhân, bản mệnh Mậu thân (1488), thọ 67 tuổi, người giáp Đồng Hạ, ngày giỗ 8/4, sinh được 4 trai 2 gái. Trai đầu tự Phúc Bảo. Trai thứ hai Phúc Thiện, thứ ba Phúc Đạo, thứ tư Phúc Tuy. Gái đầu Diệu Nhẫn, thứ hai là Xuân Hoa (trong bản Phượng Dực có Tên tục của 2 bà là Đinh thị Triền và Đinh thị Dung –Đinh xuân Hường ) . Ông Phúc Thiện tức ông Hai sinh ra Phúc Nhiễu, sinh ra sinh đồ Đinh đăng Bảng tự Phúc Long. Phúc Long sinh ra Đinh đăng Tiên tự là ông Sở. Ông Sở sinh ra Đinh đăng Quỳ. Họ Đinh dời về ấp Thái Vũ, con cháu đông đúc. Nay còn một văn bản ghi chép lại: một bà goá họ Đinh nhận cháu nuôi là Đinh nhân Nhàn làm con nuôi. Người chứng kiến việc đó là sinh đồ Đinh mậu Tài còn có sinh đồ Đinh đăng Bảng Liên danh chứng thực. Vì vậy biết tổ Đinh Đăng Bảng là Phúc Thiện,với tổ Mậu Tài Phúc Bảo là anh em khác mẹ. Ông Phúc Tuy vào ở giáp Nhị Ngũ, sinh ra ông Già, ông Già sinh ông Chiêu, ông Chiêu sinh ra sinh đồ Đinh trung Thuần (Đời Lê đã có bia ghi danh )[Tôi đã đến Văn miếu và có thấy có tên Đinh trung Thuần, nhưng có lẽ Liên trung hầu nhầm, vì cháu cuả cụ Phúc Tuy đỗ sinh đồ năm Chinh Hoà thứ 2 ( 1682 ), còn Tiến sĩ Đinh trung Thuần ở Quốc tử giám lại đỗ vào cuối thế kỉ 16 - chú Đinh xuân Hường] , họ Đinh giáp ấy con cháu đông đúc, thịnh vượng. Nay giáp áy đổi thành Phú Thọ. Con ông Hùng Duệ 4 người trông coi nhà thờ đại tôn. Chỉ biết được ba chi. Còn một chi nữa là ông Phúc Đạo thì đã đi khỏi quê. Ông Phúc Đạo là con trai thứ ba ông Hùng Duệ lúc ấy làm huyện thừa nhà Lê. Nhà Lê bị nhà Mạc chiếm mất các dinh trấn phía Bắc, phải dời về Thanh hoá ( Đời Lê Anh Tông )(1556-1573) . Tổ ta là Huyện thừa theo vua Lê. nhà vua lấy tổ ta làm Hiệp mưu thống lĩnh Thanh Hoa đạo ,Tuyên đức hầu. Được 5 năm vua sai tổ ta đến Nghệ An, huyện Đông Thành hợp cùng ông Lai quốc công hội chiến. Vừa được 2 năm chẳng may ông Lai quốc công bị nhà Mạc bắt , tổ ta một mình thống lĩnh quân binh. Sau tổ bị bệnh chết. Tổ sinh được ba con trai. ( theo bản gia phả mới tìm được ở Phượng Dực ,chỉ ghi tên 2 người con của ông phúc Đạo là Đinh Phúc Thọ và Đinh phúc Thịnh ,sinh ra một giòng họ lớn ở quê, mà không ghi thêm một giòng nào nói về việc ông Phúc Đạo theo vua Lê cần vương–chú thêm Đinh xuân Hường ) Trai đầu và thứ 2 theo vua về Thanh Hoá còn trai thứ ba được làm Thống lĩnh thuỷ bộ đạo tiên phong, tấn phong Nghĩa võ hầu hợp cùng Thái phó Tấn quốc công đem quân đến huyện Nam Đàn, xã Hoa Ô, luyện tập thuỷ quân ở sông Gang (đời Lê Kính Tông )(1600-1619) ). Tổ ta bị bệnh chết; sinh được một trai thừa hưởng chức cha làm quan Bộ đạo tiên phong. Người lấy vợ làng Văn Giai, sinh dược 3 con trai. Con đầu là tổ ta được lĩnh chức Thuỷ đạo tiên phong Diệu võ hầu. còn 2 trai đem quân đến tổng Non Liễu, Non Hồ, Thanh Tuyền, Vân Đồn; lấy vợ ở đấy sinh hạ con cháu. Trưởng chi ở làng Văn Giai sinh hạ con cháu đông nhiều. Phàm là ở nước Nam họ Đinh đều là đồng tộc với ta. giả như đạo Thanh Hoa, huyện Đông Thành, huyện Quỳnh Lưu, tổng Non Liễu, xã Tràng Phác, xã Lan Lãng; mỗi chi phái đều đồng tộc với ta. Thiết nghĩ chớ sai lầm gả cưới, ngõ hầu giữ gìn luân lý; để con cháu đông đầy thịnh vượng.
    Vả lại có một khoản để trên là dâng hương tổ tiên, dưới là nhóm họp họ hàng mỗi năm một lần, muôn đời không quên. Từ đời Minh Mạng tới nay tiền của họ ta cộng với tiền cung tiến đã chuộc được 2 sào ruộng ở Cây Khế ( do chuộc lại ruộng của Đinh trọng Cử ) 2 sào ở xứ Đồng Cần ( do Đinh hữu Đa để lại ), 2 sào ở xứ Đồng Cựa (do ngài cai tổng bái cúng), cộng 5 sào. Còn 1 sào ở xứ Đồng Cửa đặt làm tế mùa xuân ở chùa Giai vào ngày 17 tháng Giêng; xôi một cân làm trai oản, áo 50 cái, vàng bạc hoa quả đầy đủ. Một thửa Cây Khế, Đồng Cần đến Năm Trạch 2 người đóng: xôi 4 cân ,chia làm 40 chén, rượu 1 vò, 2 ngàn vàng, hai trăm cây hương. Đến mùa thu đem tế ở nhà thờ (vào ngày 17/7). Đồ tế do người cày ruộng họ nộp, hai người luân phiên nhau. Nếu thiên tai mất mùa cũng không được thiếu.
    Lại nói về chi trưởng ở làng Văn Giai. Tổ ta là cố Thuấn, huý là Đinh hữu Thực. Mộ táng ở rú Giếng, bên hữu nhà Thánh. Ông sinh ra cố Thạc - tổng binh chức huý là Đinh hữu Tri, mộ ở rú Oán, cè Th¹c sinh hạ cố Dung, tên huý là Đinh hữu Già, mộ ở rú Bút, cố Dung sinh hạ huyện thừa công Đinh hữu Từ (徐) ( có bảndịch là Trừ (除) chắc là nhìn nhầm bộ thủ ), bà tên là Nguyễn thị Nhân, sinh 7 trai 3 gái. Trai đầu Đinh hữu Lâu. Thứ hai tên Đinh hữu Pha, thứ ba Hữu Trí, thứ tư Hữu Lặc (勒)(có bản dịch là Cần (勤) nhìn thừa đi 2 nét (!)). Còn 3 trai 2 gái (thị Cày ,thị Bừa đều chết sớm). Trai đầu Đinh hữu Lâu lấy phụ ấm (tức hưởng phúc ấm của cha ) làm Nhiêu nam, nhà cửa giàu có, hùng kiệt một thời.
    Trai thứ hai tên là Đinh hữu Pha, di cư ở Phủ Diễn Châu, huyện Quỳnh Phúc, xã Hoàn Hậu, làng Quỳnh Đôi. Nguyên lấy vợ trong làng sinh toàn con gái. lại lấy thiếp ở làng Quỳnh Đôi sinh được 1 trai. Vì người vợ cả khó tính, bà bồng con về bên ngoại, Ông nhớ con bèn theo về ở cùng. Bác ruột ở Kinh về tiện đường ghé thăm, cho: bạc 5 lạng, áo xiêm 2 bộ. Ta cũng cho như vậy. sau này ta ở Kinh trở về hỏi thăm làng xóm thì ông đã qua đời. Còn người con trai tục gọi là Múi.Ta tìm đến nhà, hỏi có biết ta là ai không ? Ông nói: tôi là dân cày,chưa từng được biết quan lớn. Ta hỏi tổ tích của ông đâu? ông họ gì? Ông nói cha chết lúc 7,8 tuổi, để lại một tờ giấy nay vẫn còn. Ông không biết chữ nên chẳng hiểu trong đó viết gì (!) Mẹ họ Nguyễn, Ông theo họ mẹ. Ta nói ta cùng họ với ông, xin cho xem tờ giấy ấy. ta xem và biết ông không phải họ Nguyễn mà là họ Đinh. Ta sao giấy ấy đem cất với một xếp văn tự. không may bị mối ăn mất. Nay nơi ấy sinh hạ con cháu đông, có người đỗ đạt. ( Ông Múi là ông của Cử nhân Đinh Nguyễn Sưởng ,người làm lời tựa bản Gia phả, ông Sưởng sinh Tú tài Đinh hiên Khoát ( Người thủ bút lời tựa )–Đinh xuân Hường ).
    Con trai thứ ba tên là Trí ở với vợ hai ở xã Hoa Lâm, làng Viên Ngoại lập cơ nghiệp. Sinh hạ con cháu, sau dời ra huyện Đông Thành. Sau lại dời ra tổng Thuần Trung xã Tràng Bộc, sinh hạ nhiều con cháu, nhà cửa giàu có. lúc loạn lạc vẫn về tế tổ , (đây là chi thứ ở Đô Lương ).
    Con trai thứ tư là Huyện thừa công Đinh hữu Lặc, ở với vợ hai ở Thanh Chương, xã Lan Lãng, làm Cai vạn, sinh hạ con cháu, sau dời đến phủ Trà Lân, nay cải là phủ Tương Dương, ta cũng tìm được rồi.
    Than ôi ! Mới một hai đời mà đã mất họ huống chi lâu. Ôi ta đã già, cháu con là Đinh hữu Dực cũng gắng sức tìm cho được ba chi ấy.
    Chi trưởng ở làng Văn giai là Nhiêu nam tên là Cố Biện, huý là Đinh hữu Lâu. Lấy vợ cùng làng tên Văn thị Liêm (簾)(bản của ông Hội dịch là Khánh(慶,trong bản chữ nho còn sót lại ,có chỗ viết là Liêm, có chỗ lại có vẻ là Khánh, thực trạng thì chữ liêm rõ còn chữ khánh thì viết rất thảo nên chấp nhận tên cụ bà là Liêm ), sinh được 5 trai 2 gái . Trai đầu là Đinh hữu Thanh. Thời nhà Lê đi lính được chọn vào đội lính hạng ưu, lại được tuyển vào hầu kiệu loan giá, một minh chầu hầu khó nhoc . Luận công ban thuởng, được thăng hạng tướng ,thăng chức Thị Liêm, Thị Kiệu, Thống lãnh tứ , nhị thủ môn đội, Chưởng phủ sự, Hùng uy võ lược tướng quân, Thanh trung hầu. Cấp công điền 12 mẫu ở Bàu Chạn. Ông người to lớn, sức mạnh hơn người, hình dung phi phàm, giọng nói mạnh mẽ. Ông lấy con quan Tiến sĩ ở Bắc Thành tên Nguyễn thị Sung. Ông 35 tuổi thì mất, lúc ấy bà có thai ba tháng, sau sinh được con trai tên là Đinh hữu Phụng , bà giữ chữ tiết ở vậy cho đến khi mất .
    Con thứ Đinh hữu Bồi, lấy vợ cùng làng , sinh được con cháu hùng trưởng một vùng. Nay chi ấy phạt tự (không còn người nối dõi)
    Con trai thứ ba Đinh hữu Bài tức Cố Lại, lấy vợ cùng làng tên Nguyễn thị Huề, sinh 6 trai 5 gái.Trai đầu Đinh văn Khuê . Thứ hai Đinh hữu Đương (tức Hữu Đa) thứ ba Đinh hữu Cừu, thứ tư Đinh hữu Đính, thứ 5 Đinh trọng Cán (trọng Liên) thứ sáu và 5 con gái đều chết sớm.Vả chăng của chồng công vợ ,ta để lại vàng ròng 1 lạng, bạc 5 lạng dùng làm hậu sự. Còn vàng 2 lạng bạc 5 lạng làm hậu sự cho vợ . Lấy người cùng họ là Đinh hữu Dực làm trưởng sự, người do ta bảo dưỡng trưởng thành. Còn thứ nữa là Đinh hữu Cử, Hữu Bân , Hữu Lý, Hữu Phiêu, Hữu Ký, Hữu Luân, Đăng Mậu, Đăng Đệ , sau này vợ ta nên chia ruộng đất cho chúng.
    Ông bà phân chia ruộng đất, văn tự do ông hữu Dực giữ. Nguyên ông hữu Dực có tổ quán ở Phượng Dực nên có tên ấy. Sự việc được ghi chép để đời sau biết. nay trưởng chi huyền tôn, cai tổng Hoa Lâm Đinh hữu Dực sao chép, các chi phái trong họ đều có bản của mình.- Đến đây hết bản Di ký.
    Năm Minh Mạng thứ 9 (1829) Mạnh xuân nguỵệt hạ ( tháng 3 ) tu soạn lại. cháu là Đinh hữu Đa thừa sao. Cháu là Đinh doanh Toại thừa soạn . Cháu là huyền tôn Đinh xuân Hội (tự Văn Hữu), ngày 26/4 nhuần năm Bảo Đại thứ 19 (1944 ), thuộc chi thứ làng Văn giai, Thanh chương Nghệ An, sinh viên trường Quốc tử giám, có văn bằng tốt nghiệp trường Pháp Việt, có bằng cấp sư phạm trường Quốc học Huế, lãnh chức Tri huỵện 2 huyện Hương Sơn, Hương Thuỷ,Thăng chức Thông phán 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Hàm Hàn lâm viện thị giảng, Phụng thành Đại phu, kính dịch . Huyền tôn Đinh xuân Minh kính biên. Từ đoạn này do ông Đinh danh Toại soạn .
    Thuỷ tổ khảo (tổ đầu) tiền tổng binh phòng ngự sử Đinh tướng công tự Phúc Khê, Quảng Uy tiên sinh . Thủy tổ tỷ (tổ bà) hiệu Trinh Tư cùng bà Từ Hoan
    Cao cao tổ khảo: Đặc tiến Kim tử tán trị công thần, Phù Nam Vệ, Chỉ huy Thiªm sự Đinh tướng công ,tự Cương Chính, tặng phong Hùng Duệ Đại vương.
    Cao cao tổ tỉ hiệu Từ An cung nhân
    Cao tổ khảo hiệp mưu thống lĩnh Thanh hoa đạo, Tuyên đức hầu, tự Phúc Đạo Đinh tiên linh
    Tổ 12 đời thống lĩnh thuỷ đạo tiên phong quan, Nghĩa võ hầu . Đinh tiên sinh.
    Tổ 11 đời chiêu tập phụ chức , thuỷ đạo tiên phong quan. Đinh tiên sinh
    Tổ 10 đời thống lĩnh bộ đạo tiên phong quan, Diệu võ hầu
    ( bản chữ hán duy nhất còn lại chép sót mất 3 đời) TỔ chín đời tiền nhiêu nam (cố Thuấn) Đinh hữu Thực.mộ tại rú Giếng .
    Tổ tám đời tổng tri binh chøc (cố Thạc) Đinh hữu Tri.Mộ tại rú Oán.
    Tổ bảy đời tổng tri binh chức ( có Dung ) Đinh hữu Già.Mộ ở Rú Bút.
    tổ 6 đời , Huyện thừa Đinh hữu Từ. Mộ ở rú Bút. Tổ bà Nguễn thị Nhân. mộ ở Nhà Tác.
    Tổ 5 đời ,Tiền Nhiêu Nam kiêm tư văn thập lý hầu , hâụ đăng thượng thọ khoa Đinh hưũ Lâu( giỗ 8/7 ) . Tổ bà Văn thị Liêm (giỗ 23 / 3 ).mộ ở nhà tác.
    Tổ 4 đời ,tiền quản Thị Liêm ,Thị Kiệu, Thống lĩnh tứ, nhị thủ môn đội , Chưởng phủ sự, Hùng uy võ lược tướng quân, tước Thanh trung hầu, huý Sơn ,tự Thanh (giỗ23/3). mộ ở Kẻ ngói . tổ bà họ Nguyễn ,hiệu Từ khoan Nhụ nhân (là tên cũ đặt cho vợ các quan ) ,tên Nguyễn thị Sung, giỗ ((19/8). Mộ ở ven đồi Đa Cương .
    Tổ 3 đời tiền nhiêu nam đăng thượng thọ khoa Đinh hữu Phụng ( giỗ 1/ 12 ). mộ ở rú đờng , toạ khôn hướng cấn .Tổ bà Lê thịHạnh Tam ( huý Lê thị Tài) ( giỗ 17 / 3 ) .Mộ ở Cồn Chùa..
    Tiên tổ Ất dậu khoa cử nhân, thực thụ đốc học Thanh hoá¸Đinh nguyễn Sưởng.
    Tiên tổ Át dậu khoa tú tài Đại độ Đinh hiên Khoát
    Tiên tổ Hiển cung đại phu chiêm sự viện, Thiếu chiêm sự chức, Đinh trọng Liên (giỗ 6/5 ). Bà Nguyễn thị Khoát ,bà mất ngày 17/11, cả 2 mộ ở núi Tiên chưởng .
    Tiên tổ tiền chính đội trưởng, đô chỉ huy sứ võ uý uý , thăng uý quân sứĐinh hữu Cử(giỗ 16/ 8). mộ ở rú Hoàng Nâm.
    Hiển tỏ tiền nhiêu nam kiêm chức Trung uý Đinh hữu Loan(giỗ 23/5 ) mộ ở Nhà Tác.Bà tên Nguyễn thị Quyên giỗ (22/11). mộ ở Nhà Tác.
    Hiển tổ khảotiền nhiêu nam kiêm chức Trung uý Đinh hữu Lý ((giỗ 25/2 ). Bà Nguyễn thị Ba. Mộ ở Nhà Tác.
    Hiển tổ khảo Cai tổng Hoa Lâm,chính cửu phẩm, Đinh hữu Dực.(giỗ4/11) . Hiển tổ tỉ Văn thị Hạnh Tam , huý Kiêu .hiệu Thuận tứ nhụ nhân.Trước cưới vợ cả là Tớng thị Rê (giỗ 20/1,năm kỷ dậu) Quê xứ Sơn Nam ,huyện Bình Lục xã An Lão. Mộ ở xứ Cây thị. ( ghi chú : Hiển tổ khảo: cha đã chết . Hiển tổ tỉ :mẹ đã chết, tiên tổ :từ 3 đời trở lên , tằng tổ , cao tổ ,cao cao tổ khảo, theo thứ tự cứ xa mãi lên.) Các bà tổ thời trước tên và ngày giỗ không rõ,duy chỉ có đời thứ 2,và thứ 6 về sau mới thực rõ.
    Tổ ta Huyện thừa Đinh hữu Từ sinh được 5 trai 2 gái.Trai đầu Đinh hữu Lâu, thứ 2 Đinh hữu Pha, thứ 3 Đinh hữu Trí, thứ 4 Đinh hữu Lặc. Còn 1 trai 2 gái (Thị Cày, Thị Bừa ) chết sớm. Lại nói con thứ 2 của ông ,tri bộ công Đinh hữu Pha , di cư tại xã Hoàn hậu, thôn Quỳnh Đôi. Ông lấy vợ tại xã ấy, con một ông quan về hưu, sinh hạ con cháu . Cháu 3 đời Đinh thế Mỹ vào đời nhà Lê thi trúng Sảo thông Sinh đồ. Chắt 4 đời Đinh nguyễn Sưởng sinh hạ 3 trai 1 gái .Trai đầu Đinh hiên Khoát ,thứ 2 Đinh kính Thận, thứ 3 Đinh đình Dự. Đinh nguyễn Sưởng thi trúng Sinh đồ khoa Ất dậu( 1825 ) Đến năm Kỉ mão(1879) cùng với Con Đinh hiên Khoát trúng Sinh đồ. Đến khoa Ất dậu(1885) Đinh nguyễn Sưởng trúng Hương Cống, Đinh hiên Khoát trúng Sinh đồ. Đinh n Sưởng nhận chức Giáo thụ phủ Tĩnh Gia , sau thăng đốc học tỉnh Thanh hoá.
    Con thứ 3 của ông Từ : Đinh hữu Trí ở quê thiếp , xã Hoa Lâm , thôn Viên ngoại , sau lại dời về huyện Đông Thành , tái di cư về tổng Thuần Trung , xã Tràng Phác, Sinh được con cháu đông nhiều ,nhà cửa khá giả . Nay là một chi ở Lạc Sơn Đô Lương.
    Con thứ 4 của ông Từ là huyện thừa Đinh hữu Lặc, ở quê vợ huyện Thanh Chương , xã Lan lãng ,làm Cai Vạn , sau di về phủ Trà Lân ,nay đổi thành Tương Dương. Nay không rõ.
    Con trai đầu của Ông Từ tức tổ ta , tức Cố Biện, Đinh hữu Lâu, sinh được 5 trai 2 gái. Trai đầu Đinh hữu Thanh , thứ 2 Đinh hữu Bồi, thứ 3 Đinh hữu Bài, thứ 4, 5 không rõ,. 2 gái là thị Út , thị Lành chết sớm. Ông lấy chức của cha (Nhiêu nam) kiêm Cai xã, thọ 80 tuổi. Ông là người mạnh mẽ trí tuệ hơn người. Ông lấy vợ cùng làng , tên Văn thị Liêm ,con nhà gia giáo. Bà thọ 70 tuổi .
    Lại nói con thứ của ông Lâu là Đinh hữu Bồi , sinh được con cháu cũng nhiều . Nay không còn người nối dõi .
    Con thứ 3 của ông Lâu là Đinh hữu Bài sinh được 6 trai 5 gái. Trai đầu Đinh văn Lục ,Thứ 2 Đinh Hữu Đương, thứ 3 Đinh hữu Cừu ,thứ 4 Đinh hữu Đính ,thứ 5 Đinh trọng Liên, thứ 6 Đinh hữu Đà . Hữu Cừu , Hữu Đà và 5 gái chết sớm. Ông Bài giữ chức Lão Nhiêu kiêm Tư văn, lấy vợ cùng thôn là Nguyễn thị Huề . Trai đầu Đinh văn Lục, đời nhà Lê sớm tòng quân giữ chức Tổng tri binh chức. Sinh đựơc 1 trai: Đinh trọng Cử, một gái lấy chồng cùng làng là Tri bộ Nguyễn Công sinh được 1trai 2gái . Đinh trọng Cử là người to lớn ,uy vũ khác người , triều Lê đã qua võ trường thi trúng Lịch thụ chính đội trưởng ,chỉ huy sứ. Thăng làm lục quân sứ, chức võ uý, đã từng chinh chiến có công được vua ban thưởng ba đạo sắc phong.. Sinh được trai gái nhiều ,nay không còn nối dõi.
    Con trai thứ 2 Đinh hữu Đương là Lão nhiêu . lấy vợ cùng làng Nguyễn thị Soạn. Thọ đến 80 tuổi. Sinh được 5 trai . trai đầu Đinh hữu Nghi , thứ 2 Đinh hữu Giai (鵻)( có bản dịch là nhã (雅) có lẽ nhầm 鳥thành牙), thứ 3 Đinh h Bân, thứ 4 Đinh hữu Phiêu ,thứ 5 Đinh hữu Luân . Đinh hữu Nghi đời Tây triều ( Tây Sơn ) làm chỉ huy sứ sinh được 1 gái , 3 trai. Đinh hữu Bân đời Tây triều làm Cai hợp, sinh được 1 trai , nay con cháu cũng nhiều. Đinh hữu Phiêu đi lính cho đương triều ( nhà Nguyễn ) làm chánh đội trưởng. tử trận vì nước . Sinh được 3 trai , 3 gái. Trai : Đinh hữu Thiện, Hữu Thức, Hữu Thiều . Đinh hữu Luận sinh được 3 trai 4 gái : Đinh hữu Câu, Hữu Dụng, Hữu Lẫm, nay con cháu cũng nhiều, còn Đinh Hữu Giai phạt tự.
    Trai thứ 4 của ông Bài Đinh hữu Đính làm Lão nhiêu , lấy vợ thôn Ổ Nguyễn thị Định, sinh được 1 trai là Đinh hữu Thiêm. Đời nhà Lê làm đội trưởng thuộc viên chức , sinh được 3 trai 1 gái: Đinh hữu Tổ ,Hữu Lược, Hữu Bản. Nay con cháu cũng nhiều.
    Trai thứ 5 Đinh trọng Liên , lấy nghiệp quan trường để khởi thân, vinh hoa phú quý. Đời nhà Lê làm Cai hợp, thăng Câu khế , lại thăng chức Thiếu chiêm sự , viện Thiêm sự (đoạn trên lại viết là viện chiêm sự ), kiêm Chưởng phủ vụ nội tán thược sự ,tước Liên trung hầu..Lấy vợ đầu tại Thanh Chương, tổng Thổ Hào. Sau lấy thêm 3 vợ . Không có con .Lấy con của ông cai tổng (con thứ ) làm con thừa tự tên là Đinh văn Tiến.Văn Tiến đem con thứ 2 là Đinh phùng Xuân lập tự , Phùng Xuân sinh Đinh văn Sử. Đinh văn Sử có con, nay vô tự.
    Lại nói trai đầu ông Đinh hữu Lâu là Đinh hữu Thanh tước Thanh trung hầu sinh dược một trai tên Đinh hữu Phụng. Ông là người to lớn, mạnh mẽ, tài mạo anh hoa, lời nói nhẹ nhàng. Lúc trẻ đi lính được chọn làm lính hạng ưu, ra tuyển trường được chọn vào hầu kiệu ,chăm chỉ công vụ, luận công ban thưởng được thăng bổ chức Thị Liêm, Thị Kiệu, thống lĩnh tứ nhị thủ môn đội, Chưởng phủ sứ, Hùng uy võ lược tướng quân. Ông hưởng lộc 12 mẫu ruộng công Bàu Chạn. Bà quê Kinh bắc, con quan Tiến sĩ, tên Nguyễn thị Sung. Bà tự thân nuôi dưỡng con cháu, hưởng thọ 70 tuổi.
    Ông Đinh hữu Phụng sinh được 3 trai 4 gái. Trai đầu Đinh hữu Loan, thứ hai Đinh hữu Lý, thứ ba Đinh hữu Dực. Con gái là thị Kiêu, thị Quận, thị Thông, thị Lân, đều chết sớm. Ông Phụng cha chết sớm, ở với mẹ và ông đến 18 tuổi lấy vợ. Vợ ông người cùng xã, thôn Đa Nãi, con gái thứ 2,tên là Lê thị Tài. Ông là người giàu lòng nhân ái, nhà cửa giàu có ; gặp lúc đói kém lấy của nhà chia cấp cho dân. Lại đi bảo lãnh vay giúp dân làng. Sau dân bị đói không trả được nợ, ông đã bán ruộng vườn trả thay, sau đó dời nhà ra ở Thôn Đệ nhất xã Thái xá, huyện Đông Thành, đem 3 người con gái lớn gả ở đấy, sinh ra con cháu đông nhiều. Người con Gái út Đinh thị Lân về lấy chồng ở Văn Giai. Ông thọ 75 tuổi, bà thọ 72 tuổi.
    Con đầu ông Phụng là Đinh hữu Loan. Ông Loan người to lớn ngay thẳng, không sợ ai. Ông lấy vợ ở huyện Đông Thành, xã Hậu Duật tên là Nguyễn thị Quyên. Sinh được 2 trai 1 gái. Trai: Đinh hữu Thảo, Đinh hữu Huynh .Hữu Thảo và người con gái mất sớm. Ông Huynh lấy vợ cùng làng là Nguyễn thị Cèc sinh được 1 trai là Đinh Duy Trinh, 1gái là Đinh thị Khâm. Nay chi ấy phạt tự (không có người nối dõi).
    Trai thứ 2 ông Phụng là Đinh hữu Lý lấy vợ cùng quê là Nguyễn thị Ba, sinh được 1 trai 5 gái. Hai gái Thị Đương, Thị Đỉnh mất sớm, còn 3 gái Thị Doanh, Thị Đinh, Thị Ý đều thành gia thất .Trai là Đinh hữu Đa lấy vợ cùng làng là Nguyễn thị Hiển sinh được 5 trai 4 gái. Trai đầu Đinh hữu Kiêm, Thứ 2 hữu Năng, hữu Cần, hữu Cán, hữu Sự. Ông hữu Kiêm lấy vợ cùng xã thôn Đa Nãi là Nguyễn thị Hào, sinh được 1 trai 3 gái. Trai tức Đinh hữu Cừ lấy vợ cùng thôn là Nguyễn thị Điểu, sinh 1 trai 1 gái. Trai là Đinh hữu Lục lấy vợ thôn Xuân Bảng, đầu tiên sinh được 1 trai, tên là Đinh hữu Trởng, sau đổi là Đinh xuân Quý. Xuân Quý đi học nghè thợ máy ở Huế, sau làm ở ngành Hoả xa (đoạn này chỉ có trong bản dịch của ông Hội, Không có trong bản chữ Hán, Hiện không có tin tức gì về chi này; nếu như còn thì đây là chi trưởng tộc của họ Đinh Văn Giai)
    Con trai thứ ba của ông Phụng là tổ ta Đinh hữu Dực sinh dược 6 trai 4 gái.
    Trai đầu Đinh văn Ngạn (tự Văn Vận). Thứ hai Đinh quế Uyển (tức Văn Tiến). Thứ ba Đinh văn Đoan (tức Văn Kiêm). Thứ tư Đinh triÖu Tạo (tự Danh Toại ,hay Cố Điển) ( trong bản dịch ở làng Văn Giai,tên ông được dịch là Bút Tạo,là hoàn toàn sai với nguyên bản chữ nho, Việc đó dẫn đến việc khắc tên mộ bia của ông sai, (xin lưu ý bản sao bản dịch của ông Đinh xuân Hội cũng ghi là Triệu Tạo). thứ Năm Đinh văn Kiểm. Thứ sáu Đinh văn Đức. Nữ là thị Điểm ,thị Nhàn, thị Nguyên, thị Thuyền (con nuôi).
    Ông Dực tuổi Giáp thân (1764), ngày 28 giờ Ngọ tháng Tư. Ông còn có tên Hữu Da, Hữu Mỹ, hữu VÞ. Ông là người khôn khéo, 29 tuổi lấy vợ người ở làng Giáp Đông, con gái truởng của huyện thừa công ( con trai ông Thiêm sự MÉn trung tử ), tên là Văn thị Kiªu, sinh năm Bính thân (1776 ). Tính nết siêng năng, tay không làm nên giàu có. Nguyên vào đời nhà Lê ông làm đội trưởng thuỷ quân, xuất tả nội, hậu tuyển trạch đẳng đội, thêm suất Ngũ hùng kỳ, quản xuất thuỷ đạo đốc quân công lương, nhận chức Trấn ty Cai án . Đến triều nay( nhà Nguyễn ) nhận chức Tri thu kiêm Xã chính, lại nhận chức Phó Cai tổng. Sau đó có quy định chỉ có một chức Cai tổng, ông đã làm việc trong 16 năm không mắc sai sót nào, Ông được bảo lưu làm Cai tổng , phụng chiếu làm thực thụ Hoa Lâm tổng Cai tổng Dực , Tài nam. Hưởng lộc lương bổng trong 33 năm. Ông thọ 75 tuổi. Ông mất ngày 4/11 năm mậu tuất. Bà thọ 75 tuổi (bà mất 21/2 năm Ất tỵ).
    Con trai trưởng ông Dực là Đinh văn Vận. Đỗ sinh đồ khoa Ất dậu. Ông sinh năm Bính thìn (1796), ngày giỗ 15/9. mả chôn cạnh đường Kẻ Ngói, lấy vợ cùng làng là Nguyễn thị Giá, sinh được 5 trai 4 gái. Trưởng nam Đinh văn Địch (giỗ 9/5) sinh được trai gái khá đông, chỉ còn gái là Đinh thị Kế lấy chồng cùng làng Văn đình Truyền. Trai thứ hai ông Vận là Đinh đăng Diễn, thứ ba Đinh văn Đối, thứ 4 Đinh văn Mẫn, thứ năm Đinh văn Song. Gái là Đinh thị Sồ, thị Dương, thị Liễu và một gái chết sớm . Ông Đinh văn Song lấy vợ ở thôn Ổ là Nguyễn thị Haỏ , sinh con gái gả trong thôn Nguyễn đình Cưu ;sinh con trai Đinh văn Bách, Văn Bách sinh ra sinh ra Đinh văn Đam. Nay không còn nối dõi (Đinh văn Song giỗ 25/10. mả chôn ở Kẻ Ngói).


    CHI THỨ NHẤT
    Con trai thứ hai ông Dực là Đinh quế Uyển tức Đinh văn Tiến (Tuổi Kỷ mùi (1799), giỗ 18/7, mả chôn ở Cồn Trành) Ông thi đỗ đầu , lấy vợ thôn Phúc xá là Lê thị Thanh (giỗ 22/8) sinh được 4 trai 5 gái . trai đầu Đinh trọng Đạt, vào đời vua Tự Đức thi đỗ Tú tài khoa Mậu thân. Tuổi Đinh hợi (1827)(giỗ 22/6) . Vợ người thôn Ổ tên Nguyễn thị Ph¸c. Sinh được 4 trai 1 gái.Trai có Đinh trọng Đạt (Văn Trường ), Đinh Phùng Xuân, Đinh văn Thiệu, Đinh văn Quát. Trai đầu Đinh văn Trường, làm Lý trưởng, lấy vợ làng Tú Viên Nguyễn thị Đị, sinh được Đinh xuân Khôi và Đinh xuân Việt . Đinh xuân Khôi sinh ra Đinh xuân Thướm, Đinh xuân Mơi và Đinh xuân Thơi. Đinh xuân Việt sinh ra Đinh xuân Tiến , Đinh xuân Thiết, Đinh xuânTại (Đinh định Quốc), gái là Đinh thị Ba. Con gái ông Trường Đinh thị Tiu gả trong làng Văn đình Trứ.
    Con trai thứ hai ông Uyển là Đinh phùng Xuân. Thi trúng thí sinh, làm phó tổng, lấy vợ xã Thanh Thuỷ là Bùi thị Diệu. Sinh được 2 trai 3 gái. Trai bị phạt tự. gái con cháu đông đúc.
    Con trai thứ ba ông Uyển là Đinh văn Thiệu, vợ cùng thôn là Văn thị Đị sinh được 2 gái .


    CHI THỨ HAI
    Con trai thứ ba của ông Dực là Đinh văn Đoan tức Đinh văn Liên, sinh Nhâm tuất (1802) tự Tâm Thành, thuỵ Thuần cẩn phủ quân, giỗ 16/10,mộ tại Đồng Rày giữ chức Hương Mục, đăng thưọng thọ khoa . Bà tên Nguyễn thị Đàm (Đơm), hiệu Hạnh Nhị, thuỵ Từ Thuận nhụ nhân, giỗ 29/9, mộ tại Nhà Tác. sinh được 3 trai 3 gái. Phái nữ không được rõ. Trai đầu Đinh Uý Tư, huý là Cẩm , tự Y bố (giỗ 20/10), giữ chức Hương trung Hương mục, lấy vợ ở làng tênVăn thị Hạnh Nhất, sinh được 2 trai 3 gái. Trai là Đinh văn Sơn (chết trôi) Đinh văn Thịnh chết bệnh đậu. Con gái Đinh thị Thứ lấy chồng trong làng Văn đình An chết sớm ,thứ 2 là thị Ba lấy chồng trong thôn tên Văn đình Bình, hiện có 1 trai 1 gái. Trai sinh con là Văn đình cu Bình, gái gả cho người trong thôn Phan Văn Đại. Hiện con cháu phồn thịnh. Con gái thứ 3 của ông Tư Đinh thị Bốn lấy chồng tại Xuân Hòa sinh được 4 trai chỉ còn 1 trai tên là Cu tứ Giác.Từ đó xem ra con ông Tư phái nam vô tự, phái nữ Phồn thịnh.
    Trai thứ ba của ông Đoan Đinh văn Phúc đi lính chết trong thành Hà Nội. con ông đi lấy hài cốt về chôn ở đồng Cựa, ngày giỗ không rõ.
    Trai thứ hai là Đinh văn Bích, huý là Đinh văn Diệm , hiệu Nhuế Y, tự Đinh trọng Lang, thuỵ Chất trực Phủ quân, giữ chức Hương trung Hương mục, thọ77 tuổi, mất ngày 16 tháng 4 nhuận, nay lấy ngày 16 tháng 4 làm ngày giỗ. Bà Văn thị Ngạn hiệu Hạnh Nhị, thuỵ Cần mẫn Nhụ nhân ( giỗ 4/8) Con cố Thiệu là trưởng tộc Văn đình Đạo thờ tự. Lại nói bà tổ đương lúc mang thai, gặp lúc binh lửa ôm con nhỏ là Đinh thị Sáu, bị trúng pháo mà chết, được táng ở Xứ Đồng Viên. Ông bà sinh được 1 trai 4 gái. Trước tiên lược thuật về phái nữ: trưởng nữ Đinh thị Toàn lấy chồng trong thôn Nguyễn phúc Lan sinh 3 trai 2 gái: trai Nguyễn phúc Duệ, Nguyễn phúc Tuệ, Nguyễn phúc Đích. thứ nữ Đinh thị Hai lấy chồng trong thôn Nguyễn phúc Cường sinh 3 trai 2 gái, trai : Nguyễn phúc An, Nguyễn phúc Chí, Nguyễn Phúc Nhân. Gái thứ 3 Đinh thị Kha lấy Nguyễn hữu Giác sinh được nhiều con không may đều chết sớm, hiện còn 1 gái tên Nguyễn thị Khiếng, nay được người trong thôn Hương đạo thờ tự.
    Con trai ông Diệm Đinh văn Tư (tức Đinh xuân Dương ),sinh năm Quý Dậu (1873) (giỗ 4/4) lấy vợ ở Phúc Yên con gái thứ ông cựu lý trưởng Đinh sĩ Cương là Đinh thị Ngân sinh năm Nhâm Thân ( 1872) (giỗ 25/8),sinh được 4 trai 3 gái: trai đầu Đinh xuân Xan (tức Đinh bá Hoè). Con gái thứ hai Đinh thị Hoan , con gái thứ ba Đinh thị Thoan, trai 4 Đinh xuân San, thứ 5 Đinh xuân Mân, ,thứ 6 Đinh thị Nhơn, thứ 7 Đinh xuân Hân và một gái nuôi là thị Nhựa.
    - Trai đầu ông Tư là Đinh xuân Xan (tức Đinh bá Hoè) sinh bính thân (1898), mất 1944 (giỗ 19/3) sinh được 5 trai 5 gái : Đinh x Tựu , Đinh thị Em, Đinh xuân Án, Đinh thị Phước, Đinh thị Hường, Đinh xuân Hồng , Đinh xuân Lam, Đinh thị Tám, còn một trai một gái chết sớm.
    - Gái thứ hai ông Tư là Đinh thị Hoan lấy chồng cùng làng sinh ra 4 trai 2 gái. Trai :Văn đình Khoa,Văn đình Tùng , Văn đình Minh,Văn đình Sơn, gái thị Em và thị Tình.
    - Gái thứ ba là Đinh thị Thoan (Tiu )
    - Trai thứ 4 Đinh xuân San lấy vợ làng Phúc Yên con ông lý trưởng Bạch sĩ Hán tên thị Xương, sinh được 4 trai 2 gái. Trai đầu Đinh xuân Ban, thứ 2 Đinh xuân Thắng, thứ ba Đinh xuân Tiến, thứ 4 là Đinh thị Bốn, thứ 5 Đinh xuânVinh,thứ 6 Đinh thị Vang.
    - Trai thứ 5 Đinh xuân Mân lấy con ông Văn đình Liên không có con, sau lấy Nguyễn thị Kính sinh được 2 trai 2 gái : Đinh xuân Lâm, Đinh thị Xuân, Đinh thị Ba, Đinh xuân Bốn.
    - Gái thứ 6 Đinh thị Nhơn lấy chồng Nam Đàn, thôn Phú Thọ sinh được 3 trai 2 gái. Trai Nguyễn hữu Sum, Nguyễn hữu Lý, Nguyễn hữu Nam (đi lính bị chết) gái Nguyễn thị Nga, Nguyễn thị Ba .
    - Trai thứ 7 Đinh xuân Hân sinh được 2 trai 3 gái: Đinh thị Cháu, Đinh xuân Trường ,Đinh xuân Bính, Đinh thị Hợi, Đinh thị Năm.
    - thứ 8 Đinh thị Nhựa lấy Nguyễn nhự Ất sinh được 2 gái.


    CHI THỨ BA
    Trai thứ bốn của ông Dực là Đinh danh Toại (tự Triệu Tạo): tuổi Ất sửu (1805), giờ mão,ngày 3/8. ông thi đỗ hạng đầu. Ông là người cương trực không sợ ai . Ông lấy vợ người Xuân Dương, con nhà gia thế, thứ 4 trong nhà , bà tuổi Mậu dần (1818), sinh được 3 trai 6 gái ( Ông giỗ 25/8 thọ 63 tuổi, bà giỗ 19/10 thọ 69 tuổi). Bà tên là Nguyễn thị Toàn.Năm sinh Mậu Dần sinh hạ 3 trai 6 gái
    * Gái đầu ông Toại là Đinh thị TuÇn (giỗ 21/1) gả cho tú tài trong làng Nguyễn đình Quán, con ông Nguyễn đình Ái, sinh được Nguyễn đình Uẩn , Nguyễn đình Nguyên .Gái thứ 4 Đinh thị Tuyên lấy chồng trong làng, con trai trưởng tú tài Văn đình Tích, Văn đình Thường, sinh 2 trai 5 gái .Gái thứ 5 Đinh thị Hiên ( giỗ 15/6 ), gả tại thôn Chi Cơ, con trưởng cai tổng Huynh , Nguyễn văn Phiên (giỗ 8/8 ) , sinh hạ tử tôn Nguyễn văn Khương .
    Trai đầu là Đinh hồng Huân (giỗ 24/5) mộ ở đỉnh Tiên chưởng . Trai thứ2 Đinh văn Nhạc chết trẻ .
    Đinh thị Tùng (giỗ 10/11) gả ở thôn Phúc Yên,con ông tú tài họ Lê, Lê đức Hiền, Đinh thị Thiều( giỗ 9/8), Đinh thị Yến (năm sinh Kỉ Tị,trước lấy chồng ở Phượng Trì, Con thứ ông Bá Hộ Trần gia Tuyên (Giỗ21/8). Mộ tại Kẻ Ngói Thạch Trúc .
    *Trai thứ ba Đinh tự Cường (giỗ 26/4), Tức Xuân Đài, tức cụ Giám(vì đỗ đầu giám sinh nên có tên ấy).Bà tên Hoàng thị Chụt (giỗ 25/10) . Ông Cường sinh hạ 5 trai 6 gái :
    - Trai đầu Đinh thi Bá ,còn gọi là Bường chết sớm.
    - Trưởng nam Đinh xuân Hội, tính tình cương trực, thi đỗ tú tài, sau đó tiếp tục học ở trường Quốc tử giám, trường Pháp Việt, trường Quốc học Huế. Được bổ làm tri huyện ở Hương Sơn Hương Thuỷ, Thông phán 2 tỉnh Quảng trị , Thừa Thiên , sau về giữ chức Hàn lâm viện thị gỉang , soạn các sách dẫn giải: truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc ….. Ông mất 15/10 Âl (1953) ở YênThành , khi còn trong nhà tù cộng sản. Hiện mộ vẫn chưa tìm được. Ông lấy vợ ở xã Thanh Lâm , thôn Liễu Nha, tên Nguyễn thị Khương, sinh1900, (giỗ 27/12) và vợ hai là Nguyễn thị Tỵ (giỗ 9/3)
    Bà cả sinh được: Gái đầu Đinh thị xuân Bích, giỗ 27/1(1979) lấy chồng đầu Nguyễn hữu Hoành , sinh được Nguyễn hữu Hùng,cử nhân Văn khoa , sinh 1946. sau tái giá lấy Bùi ngọc Mỹ . Trai thứ Đinh xuân Hoà, lúc nhỏ học rất giỏi được vua Bảo đại thân ban khen. Lúc 13 tuổi bị chó dại cắn chết. Thứ 3 Đinh Xuân Hiền, sinh 1930, cử nhân văn khoa mất 1994(giỗ 18/1) sinh được 1 trai 1 gái. Trai Đinh trường Giang, cử nhân ngoại ngữ, sinh 1963 . hiện đang sống ở Đức. Gái Đinh hoàng Lan sinh 1965 cử nhân Kinh tế , hiên đang sống ở Cannada . Vợ tên Trần kim Thịnh, hiện sống ở Sài gòn.
    Thứ 4 gái Đinh Phương Thảo, cử nhân sử học. lấy chồng là nhà văn Lê Khâm (tức Phan Tứ)( Mất1994, giỗ 18/3) . Hiện sống ở Đà nẵng , sinh được một trai Lê hồng Cương (sinh 1967) , cử nhân kỹ thuật, sinh được 2 con gái :
    Thứ 5 gái Đinh thị Ngoc Sâm , cử nhân Kỹ thuật, chồng là cử nhân Nguyễn quốc Khởi. Sinh được 1 trai 1 gái. Gái đầu Nguyễn ái Thuỳ Dương, sinh 1965, cử nhân sinh ngữ. hiện lấy chồng và sống ở Pháp. Trai thứ 2 Nguyễn quốc Tuấn, sinh 1970, cử nhân Kỹ thuật, sinh được 1 gái.
    Thứ 6 Trai Đinh xuân Hảo (con bà hai) sinh1936, mất 199 ở Thanh Khai. Vợ là Văn thị Chắt. Sinh được 3 trai 3 gái. Trai đầu Đinh xuân Hoa, gái 2 Đinhthị Liên ,trai 3 Đinh xuân Hoan, gái 4 Đinh thị Hải , gái 5 Đinh thị Hằng, trai út Đinh xuân Nam.
    Thứ 7 trai Đinh xuân Nghệ, sinh 1943, cử nhân Kỹ thuật. vợ tên là Trần thị Phấn quê ở Nam Định. Sinh được 1trai, 2 gái, trai đầu Đinh trần Trường Sơn ,sinh 1978, cử nhân kiến trúc, gái 2 Đinh trần lệ Thuỷ,sinh 1979 cử nhân sinh ngữ,có 2 con . Gái 3 Đinh trần Thanh Thuý, sinh năm 1982, cử nhân sinh ngữ .
    Thứ 8 trai Đinh xuân Hường, tú tài , sinh 1946, sinh được 2 gái : Đinh thu Hương, sinh 1979. cử nhân Kinh tế, chồng là Lê thiết Hùng cử Nhân kiến trúc,sinh được 1 con gái. Gái 2 Đinh thu Trang, Sinh 1985, cử nhân Kinh tế.
    Gái 9 Đinh thị Hiền Thục (Đinh thu Hà) (con bà hai) sinh 1947. Chồng Vương quốc Hy. Sinh được 2 trai 3 gái. Gái đầu Vương thị Khanh, trai 2 Vương quốc Việt, Gái 3 Vương thị Tường, trai 4 Vương quốc Nam, gái 5 Vương thị Hợi.
    * Thứ nam của ông Cường Đinh xuân Khoa sinh 1900 ,mất 1982(giỗ 9/7).Vợ tên Trân thị Hụê Chất ( giỗ 28/10 ) sinh được8 trai 3 gái
    Trưởng nam Đinh xuân Giáp, lấy vợ và mang quốc tịch Pháp, thứ nam Đinh xuân Bảng, mất 1976 (giỗ 27/2), thứ nam, Đ/x Bá, Đ/x Thái, Đ/x Trình, Đ/x Cương, Đ/x Dũng, Đ/x Hùng. Con gái gồm Đinh t Ngọc, Đinh thị xuân Đạm, Đinh t Nga .
    * Thứ nam của ông Cường Đinh xuân Kinh, sinh 190… , mất 19… (giỗ 15/3). Vợ tên sinh được 4 trai 3 gái :
    -Trai đầu Đinh xuân Minh,nguyên phó chủ tịch hạ nghị viện Sài gòn, hiện sống ở Pháp
    - trai thứ 2 Đinh xuân Vinh , nguyên phó tổng giám đốc ADB( Ngân hàng phát triển châu Á ) hiện đang sống ở Mỹ.
    -Trai thứ 3 Đinh xuân Sinh, sống ở Pháp
    - Trai thứ 4 Đĩnh xuân Ninh sống ở Mỹ.,
    Gái gồm có:
    -Thứ 1 Đinh thị xuân Phước
    - thứ 2 Đinh thị xuân Lộc
    * thứ nam của ông Cường Đinh xuân Kiều. sinh năm 190 , mất ở Mỹ 1998 (giỗ ),Vợ tên là . Sinh được 3 trai 2 gái
    - Trưởng nam Đinh cẩm Bào , hiện ơ Mỹ , sinh 194 , Vợ tên là
    sinh được con
    - Thứ 2 Đinh Thiên Trạch , sinh 1944 , vợ tênlà sinh 19 …
    sinh được con
    - Thứ 3 Đinh xuân Châu, sinh 195.. , Hiên ở Mỹ , Vợ tên là
    sinh được con
    - Thứ 4 Đinh thị Quy, sinh 195 .., hiện ở Mỹ , chồng tên là
    sinh được con
    - Thứ 5 Đinh thi Lan, sinh 195… , hiện ở Mỹ, chồng tên là
    Sinh được con
    - Thứ 6 Đinh thị Nga, sinh 196 … , hiện ở Mỹ , chồng tên là
    sinh được con
    * Con gái ông Cường Đinh thị Huỳnh (giỗ 3/1 ,lấy chồng ở làng Xuân Dương tên Nguyễn hữu Quyền (giỗ 1/3 ) sinh được 3 trai gái. Trai Nguyễn hữu Thiều,N/ h Sáu (Lê vinh Quốc), N/h Bảy. Gái : Cháu Sáu , Vinh Tập.

    * Con gái của ông Cường Đinh thị Hưu, lấy chồng Nam Đàn tên Nguyễn hữu Hưu sinh được 4 trai 2 gái .Trai là Nguyễn hữu Trinh ( mất sớm ) , Nguyễn hữu Bá sinh được Nguyễn hữu Thước, Nguyễn hữu Thược, Nguyễn thị Loan, Nguyễn hữu Phưọng. Trai Nguyễn hữu Việt (Bộ Huờn ) sinh được Nguyễn hữu Việt, Nguyễn thị Thành, Nguyễn thị Thân. Gái Nguyễn thị Mượi, Nguyễn thị Huệ. Trai Nguyễn hũu Kì ( liệt sĩ chống Pháp )
    * Con gái của ông Cường Đinh thị Lam(giỗ 13/10), lấy chồng ở Nam Đàn, tên Lê xuân Dương (giỗ 25/10 ). Sinh dược 2 trai: Lê xuân Nam ,Lê xuân Thường
    1 gái : Lê thị Thận
    *Con gái Ông Cường Đinh thị Chín, lấy chồng ở Thanh Lâm tên là Trần đức Đường ( Ký Đường ) sinh được 3 trai 2 gái : Trần hưng Bá, Trần hưng Đường, Trần hưng Đậu, Trần thị Ngân, Trần thị Thu.
    * Con gái út của ông Đinh thị M*ười (cọt) lấy chồng cùng làng đẻ được Nguyễn sĩ Bòng, sau lấy Văn đình Hạnh, sinh được Văn đình Bồng , Văn thị Hương
    CHI THỨ TƯ (phạt tự)
    Trai thứ năm của Ông Dực Đinh văn Kiểm lấy vợ làng Tú Viên là Nguyễn thị Hương., sinh được Đinh Phong . gái là Đinh thị Huyên


    CHI THỨ NĂM
    Con trai ông Dực là Đinh văn Đức(giỗ 1/12) thi trúng thí sinh , lấy vợ xã Lương Trường huyện Thanh Chương tên Hoàng thị Biến sinh được 5 trai 3 gái. Trai Đinh văn Câu, văn Phiên, văn Kiên đều mất sớm. Trai đầu Đinh văn Viên (tức Văn Tâm) nhận chức Đội trưởng, lấy vợ ở Hà Tĩnh, huyện Cẫm Xuyên,tổng Mỹ duệ (xã Cẩm Duệ nay) thôn Như Xuân tên là Bùi thị Vực. Sau lấy thêm 2 vợ nữa sinh được 4trai: Đinh văn Bình, Văn An, Văn Thứ, Văn Bốn. Đinh văn An lấy vợ làng Văn Giai tên Bùi thị Choai sinh được Đinh xuân Long . Sau đó họ bỏ nhau, Long theo mẹ về ở Phuống. Mẹ lấy ông Do ở chợ Đàng. Đinh văn An về Hà Tĩnh lấy vợ sinh được 2 gái là thị Lý, thị Lộc. Trai thứ của ông Viên là Đinh văn Thứ sinh 2 trai 2 gái . Trai Đinh xuân Quang , Đinh Xuân Minh hiện ở Hà Tĩnh , huyện Cẩm Xuyên, xã Cẩm Duệ ,htx Trung Ái , đội 2.
    CHI THỨ SÁU
    Trong tất cả các bản dịch từ trước đến nay cũng như bản chữ Hán còn sót lại không có một giòng nào về chi này. bản thân tôi (Đinh xuân Hường) lúc còn nhỏ nghe mẹ kể chuyện rằng:một gia đình gặp hoả tai ở một nơi khác có đến định cư ở làng Văn Giai và xin nhập vào họ Đinh, Nguồn gốc từ đâu đến và có liên hệ gốc gác với họ Đinh ta như thế nào thì hoàn toàn không biết, do đó không biết xếp thứ bực như thế nào cho phải lẽ. Vậy mạn phép xếp vào chi thứ sáu.
    Ông Đinh xuân Đợi sinh được 2 trai là Đinh xuân Nghiêm và Đinh xuân Tiến. Trai đầu Đinh xuân Nghiêm sinh được 4 trai 1 gái .Trai có Đinh xuân Đối, Đinh xuân Chất, Đinh xuân Ba, Đinh xuân Tứ, Gái Đinh thị Ngũ. Trai thứ 2 Đinh xuân tiến sinh được 4 trai : Đinh xuân Cần, Đinh xuân Thắng, Đinh xuân Hộ, Đinh xuân Lợi.
    Trên đây là gia phả của họ Đinh , ghi lại lịch sử các chi thứ ở làng Văn Giai và các nơi khác đến đời thứ 11 kể từ cụ tổ Đinh hữa Dực. Các thông tin về thời hiện tại còn sót nhiều. Mong sự hợp tác của bà con họ hàng.
    Các con cháu họ Đinh ở trong và ngoài nước đã đóng góp để sửa chữa lại nhà thờ đại tôn ở làng Văn Giai, và xây mộ tổ, cũng như quy tập mộ của các tiền nhân về chôn ở Rú Đờng.Riêng về chi thứ 3 nhà thờ chi đã bị đem chia cho nông dân, nay các con cháu trong và ngoài nước đóng góp đã xây lại mới ở thôn Cầu Gang. Con cháu cũng đóng góp một khoản để gửi tiết kiệm, hàng năm gửi về làm giỗ, và để tu bổ nhà thờ. Trong đó gồm có: con cháu Ông Kinh 400$, con cháu Ông Kiều 400 $, con cháu Ông Hội 5.000.000 đồng ,
    Ngày 17 /3 /2007 . hiệu đính bản dịch cũ ,bổ sung mới Đinh xuân Hường.
    Đôi lời lạm bàn
    Trong một lần về thăm quê sau nhiều năm phaỉ li hương tôi có sưu tầm được bản chữ hán Gia phả cuả họ, đồng thời tôi cũng sưu tầm được máy bản dịch của tập gia phả đó. Xem các bản dịch đó tôi thấy có rất nhièu sai khác, nhất là tên ,huý hiệu của các bậc tiền bối. Đem đi hỏi những bậc túc nho ( có vị vừa dạy đại học, vừa soạn từ điển ) Chẳng biết vì ngại tốn thời gian hay vì lí do nào khác mà họ đều bảo: dịch thế là tốt lắm rồi! Tốt là tốt thế nào, làm sao lại có nhiều dị biệt như thế? Thế là tôi quyết tậm tự học chữ Hán. Trước đây khi học phổ thông tôi chỉ học Trung văn vào năm lớp 8, đến hè sang lớp 9 lại thích học Nga văn nên nhờ ông anh bổ túc, đến năm học mới thi đỗ lại chuyển sang lớp Nga, và học cho đến hết lớp 10 rồi đi lính. Đến khi càng học thì thấy nó càng khó, nhất là các bản viết tay viết theo lối hành thư, thậm chí có vi viết ngoáy “đá thảo” thì thật “vã mồ hôi. May mà vì là hưu trí cũng rỗi rãi thời gian, lại tầm được tài liệu thư pháp nên việc học cũng thuận tiện. Nay thì có thể đoc được các văn bản xưa, và còn dám cả gan dịch hộ Gia phả (!)
    Tôi đã được nhờ xem và hiệu đính bản dịch gia phả của họ Đinh Phượng Vũ, xem ra là nơi khởi nguồn cuả họ Đinh Văn Giai, Thanh chương , Nghệ an. Tôi được cho xem đến 4 phiên bản khác nhau, được soạn vào các thời khác nhau, từ đời Tự đức cho đến Thành thái rồi đến thời giữa thế kỉ trước( Chữ nho chú thêm quốc ngữ ) Khi xem kĩ các bản này, tôi thấy nảy sinh một nghi ngờ mà không nói không thì áy náy không bao giờ yên. Vẫn biết rằng Gia phả là do tiền nhân để lại , người sau cứ thế mà theo, nhưng nếu tiền nhân sai thì chẳng lẽ cứ để vậy?
    Theo thông lệ thì giòng cả bao giờ cũng nhiều đời hơn giòng thứ, vì con cả được đẻ từ năm 20 tuổi( thậm chí còn trẻ hơn ) còn con út thì 40, 50 mới đẻ( Thậm chí có người ngoài 70 còn đẻ ). Như vậy trưởng chi là Đinh phúc Bảo ở Phượng Vũ đến nay mới chỉ là đời thứ 14, mà chi thứ 3 ở Văn Giai đã đến đời thứ 22 (!!!). Như vậy làm sao có thể trùng hợp được? Khi được nghe như vậy tôi đã rất nghi ngờ, sau đó qua anh Đinh Phạm Thái tôi có được xem bản phô tô Gia phả Phượng vũ chép vào đời Tự đức. Bản này chép rất sơ sài, có chỗ không biết từ đâu lại có một tên nhân vật, mà không biết do ai sinh ra? Có lẽ sai từ đó mà ra chăng? Thế nhưng đến khi được giao hiệu đính bản dịch gia phả Phượng vũ , nhất là mục kích bản cuả ngài Thành Trai soạn năm Thành Thái thì mới biết là bản Gia phả Phượng Vũ không thể sai được, tất cá tên ,huý ki., nơi chôn cất, thậm chí hướng mộ của các bậc tiền nhân đều đầy đủ, mặt khác năm tháng còn được bổ sung bằng tác phẩm “Đăng khoa lục”. Như vậy thì chỉ còn là hầu tước Đinh trọng Liên nhận sai nguồn gốc(!!!). Tôi xin đưa ra mấy dị biệt trong hai bản gia phả:
    1*Bản Văn Giai chép ngài Hùng nhuệ đánh giặc Mạc và chết tại Châu cầu, mà bà Dương thị có thể đến để tìm xác thì không thể xa hơn 100 km được, nay xác định là ở Phủ lí, như vậy là ở vaò đầu cuộc chiến để khớp với đoạn sau ngài Phúc Đạo vào Thanh hóa thêo giúp vua Lê(đời Lê Anh Tông ). Còn các bản ở Phượng Vũ không nói là đánh nhau với ai cả mà việc xảy ra còn muộn hơn các năm ở trên nhiều.
    2*Bản Văn Giai ghi rằng: ở Phượng Vũ chỉ còn có 3 chi, còn chi thứ 3 là Phúc Đạo 也披 tức đã rời quê . Còn bản Phượng vũ thì ngài Phúc Đạo chôn ở quê và liệt kê hàng 5,6 đời con cháu, và cũng chẳng ai đi vào Thanh Nghệ cả (!)
    3*Bản Văn Giai ghi : ngài Phúc có 3 con trai theo vua Lê vào Thanh hoá, còn bản Phượng vũ thi ngài chỉ sinh được 2 con và tất cả đều ở Phượng vũ.
    Tất cả những sai sót đó có thể xảy nếu có sai sót trong biên tịch, nhưng một lí do mà tôi cho hai bên không thể là một vì sự sai lêch quá lớn về niên đại. Thử lấy hai người cùng thời trong gia phả hai bên để tính ngược lên. Vào đời Lê Cảnh Hưng ông Hầu tước Đinh trọng Liên ( ngườt viết gia phả Văn Giai ) và ông Đinh chu Quản (ở Phượng vũ ) đêù là con cháu của Đinh Phúc Đạo, thì từ ông Liên đến thuỷ tổ lả 13 đời, còn từ ông Quán đến thuỷ tổ là 8 đời (!) sai số hơn 1,5 lần, nếu tính năm thì hơn 100 năm (!) một nghi vấn nữa mà tôi tháy cần phải tính đến: các cụ tổ ở Văn giai từ đời 13 trở lên chỉ có chức hiệu chứ không có tên, thì tại sao đến đời 16 lại biết tên là Đinh phúc Đạo ?
  2. Đinh Hữu Huỳnh Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    21/4/14
    Số bài viết:
    1
    Địa điểm:
    Thanh văn, Thanh chương, Nghệ an
    bác ơi, sao lại phải đổi từ Đinh hữu sang Đinh văn thế bác, cháu lại là Đinh Hữu, cháu ở Thanh văn, Thanh chương Nghệ an,

Chia sẻ trang này