Phóng sự: Buổi dâng hương tại đền thờ Tướng quân Đinh Công Bách

Thảo luận trong 'Người Họ Đinh Việt Nam Xưa Và Nay' bắt đầu bởi dinhvandat, 15/11/12.

  1. dinhvandat Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    18/3/10
    Số bài viết:
    16
    [IMG]

    Phóng sự: Buổi dâng hương tại đền thờ Tướng quân Đinh Công Bách ở Doãn Thượng, Thuận Thành, Bắc Ninh

    Ngày 11/11/2012, (tức 28 tháng Chín năm Nhâm Thìn) Ban liên lạc họ Đinh Việt Nam đã tổ chức buổi lễ dâng hương tại Đình thờ Tướng quân Đinh Công Bách, kiệt tướng của vua Hùng Vương thứ 18 (tức Hùng Duệ vương) ở làng Doãn Thượng, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đoàn do ông Đinh Ngọc Hiện, phó Trưởng ban Thường trực, Ban liên lạc họ Đinh Việt Nam làm trưởng đoàn. Thành phần đoàn còn có các ông Đinh Phạm Thái, Đinh Xuân Vinh, Đinh Mạnh Hùng, Đinh Văn Đạt, Đinh Văn Phổ, Đinh Nguyễn Việt Hưng…

    Hôm ấy, ngay từ 6 giờ sáng trời đã đổ mưa. Ba xe ô tô của đoàn và một xe của đài Truyền hình Việt nam ‘cắn đuôi nhau’ đi trong mưa gió. Khi đến nơi thì mưa càng to hơn, như trút nước. Giáo sư Tiến sỹ Đinh Phạm Thái, lần nào đi điền giã như thế này cũng đều đưa ra một câu chuyện có duyên mà không giải thích được. Ông nói: “Phải chăng, đã 23 thế kỷ mới có một đoàn đại biểu con cháu họ Đinh đến dâng hương nên Tiên Tổ ngậm cười nơi chín suối, làm cho đất trời vần đảo chăng? Đây là một nhân duyên nữa mà không giải thích được…”. Đúng vậy! Khi đoàn bắt đầu hành lễ thì mưa tạnh hẳn. Tiết trời trở lại mát mẻ lạ thường.

    Đầu tiên đoàn vào viếng cảnh chùa Long Vân, một trong 95 ngôi chùa cổ của Việt Nam, có từ 1.000 tuổi trở lên. Ngôi chùa này nhà sư Phí Hoàn đã tu luyện ở đây từ năm 1.030, nhỏ gọn, thoáng đãng, duyên dáng…như bao ngôi chùa cổ khác của đồng bằng bắc bộ. Đoàn bái phật ở ngôi Tam Bảo, sau đó sang gian Thánh Mẫu và những nơi khác của nhà chùa…
    Đến giờ, cả đoàn sang đình làng Doãn Thượng. Buổi lễ được chia thành hai phần. Phần dâng hương và phần giao lưu toạ đàm.

    Bốn chi họ Đinh của Doãn Thương và các làng xung quanh dâng hương trước. Sau đó là lễ dâng hương cùng phẩm vật của đoàn đại biểu Ban LL họ Đinh Việt Nam. Nghi lễ được tiến hành trang trọng theo đúng tập tục của địa phương.

    Phần mở đầu do chuyên gia Sử liệu, nhà báo Phí Văn Chiến đảm trách, giới thiệu những nét khái quát của ngôi đình, những duyên tình dẫn dắt nhà báo tìm được ngôi chùa Long Vân và đình làng Doãn Thượng.

    Tiếp đến ông Nguyễn Kim Thư, một Trung tá của Tổng cục 2 về hưu, người đã đổ bao tâm huyết với ngôi đình, với các di vật hiện có cùng những bản Thần tích Thần sắc, mày mò dịch đi dịch lại để chuyển tải cho du khách tham quan…Ông Thư giới thiệu về ngôi đình như một hướng dẫn viên du lịch thực thụ, mạch lạc và chuẩn xác. Sau mấy chục phút thuyết trình, ông Thư lại trực tiếp dẫn mọi người vào Hậu cung để giới thiệu khá tỉ mỹ về ba cha con nhân vật. Đó là ba tướng của Hùng Duệ vương cũng như các cổ vật hiện có của ngôi đình. Sự tích về tướng quân Đinh Công Bách đã xảy ra cách đây 23 thế kỷ, nhưng chúng tôi thấy gần gũi lạ thường, dung dị như là ta nghe một câu chuyện của thời Hậu Lê mà thôi. Thời gian 23 thế kỷ xa lắc la lơ ấy nhưng sao vẫn thân quen, mặn mà, đằm thắm! Phải chăng đó là tính huyết thống, tính kế thừa và cả sự tâm huyết với tiền nhân mà đoàn con cháu họ Đinh cảm nhận được từ Tiên Tổ.

    Chúng tôi xin mô tả sơ qua về ngôi đình thật đặc biệt này. Theo thần tích, ngôi đình cổ có từ xa xưa, vào thời nào thì chưa khảo cứu chính xác được. Nhưng qua Thần phả, Thần tích và tấm bia đá cổ Sự tích thần bi ký cho thấy, ngôi đình được khởi công trùng tu tôn tạo lại vào năm Hồng Đức nguyên niên thứ ba, tức năm 1472, tọa lạc trên một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, là đất Hổ phù của cả vùng, như thần tích đã ghi.

    Đình có Hậu cung với 3 gian rộng khoảng 30 m2, nơi đặt bài vị thờ ba cha con của Tướng quân Đinh Công Bách.

    Trên sập thờ của Hậu cung, trong cùng là Khám thờ đức ngài Đinh Công Bách. Dịch ra ngoài có hai pho tượng gỗ, một nam một nữ, cao khoảng 1,2 mét có bố cục tạo tác trong tư thế ngồi, được thỉnh vào thời Nguyễn, sau lần trùng tu thứ hai.

    Tượng thứ nhất là một Nữ chúa, đội mũ có dải hoa, ngồi ở tư thế khoanh chân, tự do tự tại, tỏ rõ là bề trên của tượng nam, hai tay nhẹ nhàng đặt trên gối. Tượng mặc áo mỏng, nhiều lớp, sơn vẽ hình Phượng và hoa Cúc, khuôn mặt đẹp, đôi mắt hiền từ …cho thấy, sinh thời bà là một nữ tú đoan trang. Đó chính là ái nữ đầu lòng của Tướng quân Đinh Công Bách, hiệu là Bảo Ngọc Công chúa.

    Tượng nam là một võ quan, đội mũ đầu Rồng chầu mặt trời, hai tay: một úp một mở, để trên đầu gối, ngồi trên ngai, dáng vẻ thư sinh, đĩnh đạc. Tượng mặc áo võ quan, chạm hình Rồng nổi, mặt hổ phù có chim Phượng chầu hai bên, mặt vuông tai lớn, thân dài, bụng to, nét mặt nghiêm trang, thanh tú…cho thấy sinh thời, ông là một người đức độ, lương quan. Đó chính là con trai ngài Đinh Công Bách hiệu là Linh Quang.

    Thần tích nói về duyên tình của Đinh Công Bách với người vợ thứ hai như sau:
    Bà Trương Thị Nhật sinh con gái là Tỷ Nương được vài năm thì mất, Đinh Công Bách cứ ở vậy nuôi con. Một lần cùng vua Hùng Duệ vương về Hoa Châu thăm quê hương xứ sở, ngắm cảnh sông núi nước non, Công Bách đã tháp tùng vua đi điền giã, rồi nhân đó xin phép về thăm quê. Dân chúng thấy ông về đã làm lễ Bái Hạ để nghênh đón ông. Đêm ngủ, ông nằm mơ thấy mình đến một miệng giếng, gọi là Giếng Tỉnh thì thấy một ông lão cầm cái áo gấm mà rằng:

    - Lão có một chiếc áo gấm, xin ông nhận lấy nó, vì ông có tướng số phối hưởng được khí tốt.
    Nói rồi ông ta chỉ vào miệng giếng và đọc một bài kệ…có ý nói cứ làm theo sẽ gặp điều tốt lành.
    Tỉnh dậy, Công Bách thấy mình cầm áo gấm trên tay liền hỏi thăm đến giếng có tên là Giếng Tỉnh. Tiếp đó được bà con chỉ dẫn đến nhà họ Tô ở Doãn Xá. Tô Công vừa mất được mấy năm, chỉ có vợ và ba con gái. Nhìn bức hoạ của Tô Công thì Công Bách thấy đúng như người đã cho mình áo gấm. Người con gái đầu của Tô Công là Tô Thị Nghi cũng được cha mách bảo là chồng của con sẽ đến tìm. Cảm thấy nhân duyên hoà hợp, hai người đã nên duyên vợ chồng. Lúc ấy Đinh Công Bách đã ngoài 60 tuổi. Một năm sau cũng tại Giếng Tỉnh, thần đã báo cho hai vợ chồng rằng:
    - Hoàng thiện tặng hai người sắc chỉ một chương, thần đồng 6 tuổi, lưu tiếng vạn thời, đến giờ Dậu sẽ giáng thế đầu thai.
    Bấy giờ từ miệng giếng có một luồng hào quang bay lên lượn ba vòng rồi nhập vào Tô nương. Từ đó bà cảm thấy mình đã mang thai. Từ giờ Tỵ đến giờ Dậu bà sinh hạ ra Đinh Linh Quang, một thần đồng như đã nói trên.
    Tại 3 gian Hậu cung, còn lưu giữ được một số di vật:
    Ngoài tấm bia Sự tích thần bi ký khắc năm Hồng Đức nguyên niên thứ ba, tức năm 1472, còn có:
    - Tướng miện và đôi hia cùng thanh bảo kiếm có bao bằng sừng của đức ngài Đinh Công Bách. Riêng tướng miện và đôi hia được thêu hình Long Phượng chầu Nguyệt, mỗi chiếc dát đến mấy cây vàng mười. Niên đại của hai di vật này chúng tôi chưa xác định được.
    - Thanh bảo kiếm có bảo đao bằng sừng, cả hai được chế tác vào thời Nguyễn.
    - Đình lưu giữ được10 đạo sắc phong của 5 đời vua nhà Nguyễn, trong đó xa xưa nhất là đạo sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 6, ngày 16/5/1883. Chúng tôi cho rằng, phải có các đạo sắc phong của vua Lê Thánh Tông. Vì năm 1472 nhà vua đã cho trùng tu lại ngôi đình này, dĩ nhiên phải có sắc phong kèm theo. Nhưng hiện không lưu giữ được. Chỉ thế thôi cũng cho thấy, những bảo vật vô giá đó, không chỉ của làng Doãn Thượng mà là của quốc gia, có một không hai, cần được lưu giữ một cách an toàn nhất.

    Toà Tiền tế ngoài 3 gian, khoảng 30 m2, các vì nóc kiểu Kèo Kìm được liên kết dọc ngang với 8 cột gỗ, chu vi mỗi cột gần 70 cm. Trên đầu nóc một số con rường và đầu bẫy của toà Tiền tế còn những mảng chạm khắc hoa văn của thời Lê (trung tu năm 1472) mà đến thời Nguyễn đã trung tu tiếp, còn sót lại. Phía trước toà Tiền tế là hai cột trụ to lớn, đỉnh mỗi cột đắp hình hai con Nghê trông rất ngộ nghĩnh.
    Nối giữa nhà Tiền tế ngoài với Hậu cung là nhà dải muống (hay gọi là nhà Cổ giải), với diện tích khoảng 25 m2. Nhà này có bộ khung bằng gỗ lim, các vì nóc kiểu ván mê giá chiêng, được chạm khắc các hoa văn rất tinh tế, nghệ thuật. Nhà dải muống được liên kết bằng 8 cột gỗ, mỗi cột có chu vi khoảng 65 cm
    Tiếp theo là toà Đại Đình kiến trúc theo hình chữ Công (I), với 7 gian tiền tế, 2 gian dải muống…có diện tích gần 120 m2, kết cấu theo kiểu thượng chồng rường, hạ giá chiêng liên kết dọc ngang với 24 cây cột gỗ, từ cột quân tới cột cái, chu vi mỗi cột từ 0,8 mét đến hơn một mét, cao từ 2,25 mét đến 3,25 mét. Khoảng cách các cột từ 2,50 mét đến 2,65 mét. Cột cái tính từ thượng lương xuống chân cột có độ cao là 4,30 mét, mái hiên cao 2,15 mét. Trên mái của toà Đại Đình lợp bằng ngói múi…Có thể nói, kiến trúc của đình thật là đặc trưng của các đình chùa cổ ở trung du và đồng bằng bắc bộ.

    Có hai bức cuốn thư, mỗi bức có 28 chữ, nghe nói là của con cháu hậu duệ của Chử Đồng Tử và Tản Viên Sơn Thánh cúng tiến cho ngôi đình từ thời vua Lê Thánh Tông, năm 1472. Phía trước là một hồ lớn, khoảng 5 sào, có một ngôi Thuỷ Tạ đẹp đẽ ngự ở gần giữ hồ…càng làm cho phong cảnh ngôi đình như một bức hoạ đồ hiếm có ở một làng quê yên ả.

    Các cụ già trong làng nói rằng: Khuôn viên đình trước đây còn có một Phương Đình tám mái dao cong, bên phải là nhà Dải Vũ và Văn Chỉ, bây giờ chưa có kinh phí để phục hồi lại được.

    Về lich sử của Tướng quân Đinh Công Bách, Thần tích của đình ghi rất đầy đủ rằng, ông là một Lạc tướng kiệt xuất của vua Hùng thứ 18 là Hùng Duệ vương. Ông quê ở Hương Hoá (thuộc Hoá châu), huyện Bất Bạt, thôn Ngô Đồng. Vợ cả là Trương Thị Nhật, người ở Doãn Xá (nay là Doãn Thượng), sinh ra Tỷ Nương, tức Bảo Ngọc Công chúa, có tính bẩm thanh kỳ, thiên tư thông minh trí tuệ, dung nhan thanh tú, mặt đẹp như hoa, chim sa cá lặn, có tài sai khiến được trăng hoa… nhưng nàng lại dốc chí Thiền môn, không muốn nhiễm bụi trần…

    Khi vợ cả chết ông lấy vợ hai là bà Tô Thị Nghi, cũng người Doãn Xá, sinh con trai Đinh Linh Quang. Thần tích nói rằng, Đinh Linh Quang khi mới sinh, mặt vuông tai lớn, thân dài, bụng to, nét mặt tươi tắn, thanh tú…Mới được 100 ngày đã nói năng lưu loát như người lớn. Năm 3 tuổi đã cao lớn trẻ lên 10. Lên 6 tuổi đã thuộc làu Kinh Thi, Kinh Thư, mỗi lời nói đều có thể lưu tiếng muôn đời… Quần thần truyền tụng về Đinh Linh Quang, vua Hùng Duệ vương cho xe đến rước Linh Quang vào cung để đàm luận. Linh Quang tấu lên vua những điều bức thiết làm cho Hùng Duệ Vương rất hài lòng và tâm đắc. Khi hỏi về vận nước, Linh Quang trả lời ngay:

    - Hùng gia đến thời kỳ cuối cùng tranh nước với Thục gia. Lòng trời đã định. Nhà Thục tất đến xâm phạm, cướp nước. Hoàng đế nên nhường nước cho họ thì nước được yên….
    - Sao biết việc đó?.
    - Phương Nam mây ngũ sắc xuất hiện trên núi Tản, có hình dáng giống núi lửa, bay nhập vào tướng tinh của Hoàng Thượng. Không quá sang năm tất thấy.
    - Ngài có kế gì để giúp ta chăng?.
    - `Có thể giúp được. Nhà vua hãy chọn các vị tướng tài giỏi cùng uống rượu, đi săn. Nhân đó cho con gái là Quý nương Ngọc Hoa chọn người cầu hôn. Cuộc cầu hôn do Thiên định ở núi Tản Lĩnh, có chư thần đia phương làm chứng…

    Duệ vương vô cùng kinh ngạc, liền ban đất cho cha con Đinh Công Bách ở quê nội: trang Ngô Đồng, Bất Bạt. Quê ngoại ở Doãn Xá, Kinh Bắc làm đất thang mộc của họ Đinh, miễn thuế khoá. Vua còn phong cho Linh Quang làm Tuấn lương Dực bảo Trung hưng tôn thần khi đang còn sống. Phong cho chị gái là Bảo Ngọc công chúa, Hậu thổ chính đại thần, gia phong Thục diện Phu nhân, Dực bảo trung hưng tôn thần khi đang còn sống.

    Sau khi chọn chồng cho con gái Ngọc Hoa với Tản Viên Sơn Thánh theo kế của Linh Quang, lại chọn thêm được Chử Đồng Tử cho Công chúa Tiên Dung, Duệ vương càng tin lời Linh Quang. Duệ vương có ý truyền ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, nhưng chàng quyết không nhận. Duệ vương nói:
    - Nếu con không nhận thì ngôi vua này tất bị người khác chiếm đoạt.
    - Phụ vương cứ yên lòng, giặc đến là chúng con chiến đấu để bảo vệ non sông đất nước bao đời của Hùng vương…

    Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi cung cấp thêm tư liệu thời Hùng vương như sau:
    Theo Ngọc Phả đền Hùng của nhà Tiền Lê lập năm Phúc Nguyên (980 Tây lịch) thì Hùng Duệ vương thọ đến 221 năm và làm vua những 150 năm. Mấy chục năm cuối đời của Hùng Duệ vương đã xảy ra chiến tranh liên miên với nước Nam Cương của Thục Phán. Bấy giờ Thục Phán đã thu phục được miền đất ở phía Tây Nam Trung quốc, gồm tỉnh Nam Ninh và vùng đất phía bắc nước ta là Cao Bằng và Hà Giang, lập ra nước Nam Cương của người Tây Âu. Thục Phán liên tục cho quân sang xâm phạm bờ cõi nước Văn Lang, nhưng đều bị thất bại. Các Lạc tướng của Hùng Duệ vương chiến đấu kiên cường, đã giữ được toàn vẹn lãnh thổ. Kiệt tướng xuất xắc nhất của Hùng Duệ vương là Tướng quân Đinh Công Bách.

    Hơn chục năm gây chiến liên miên, Thục Phán không tìm được cách gì để thôn tính Văn Lang, cuối cùng phải dùng kế kết thân, bằng cách nhận làm con rể của Hùng Duệ vương để chờ thời. Hơn chục năm sau, (năm 257 Trước Công Nguyên) Hùng Duệ vương mất, Thục Phán với tư cách là con rể đã sang để chịu tang, nhưng trước khi đi đã cho quân binh bí mật áp sát biên giới. Triều đình Văn Lang đã tôn người con cả của Duệ Vương lên làm vua, gọi là Hùng Kính Vương.

    Một tuần ma chay cho cha vợ xong, sau bữa tiệc rượu tiễn biệt của Hùng Kính vương và triều đình, Thục Phán đi được nửa ngày đường liền quay lại với đại binh hùng hậu, bắt trói toàn bộ các Lạc hầu, Lạc tướng của triều đình Văn Lang và tiếm ngôi. Thục Phán xưng là An Dương Vương, sát nhập nước Văn Lang của người Lạc Việt với nước Nam Cương của người Tây Âu thành nước Âu Lạc, về sau dời đô từ Phong Châu về Cổ Loa…Đến đây thì nước Văn Lang kết thúc, sau 2.796 năm trị vì liên tục của 18 đời vua Hùng, tính từ Kinh Dương vương đến Hùng Duệ vương.

    Đinh Công Bách cùng những người trung thành với triều đình Văn Lang đã đưa Hùng Kính vương chạy khỏi Phong Châu, lập căn cứ chống lại An Dương vương trong 6 năm trời, nhưng cuối cùng cũng thất bại, phải mai danh ẩn tích…Hùng Kính vương không được tính vào thứ bậc của các vua Hùng, vì lúc đó nhà nước Văn Lang không còn nữa. Vả lại thời gian trị vị của ông chỉ có 6 năm so với Kính Dương Vương - 215 năm, Lạc Long Quân - 400 năm, Hùng Diệp Vương (Hùng vương thứ 4) - 300 năm v.v… thì chả thấm tháp gì.

    Thần tích đình làng Doãn Thượng nói rằng, vua Hùng Duệ vương đã chọn chồng cho Ngọc Hoa là Tản Viên Sơn Thánh, chọn chồng cho Tiên Dung là Chử Đồng Tử, hai trong bốn tứ bất tử của nước ta. Hai vị nhân thần này cũng tôn Đinh Công Bách lên bậc cha chú của mình.

    Sau khi bị Thục Phán cướp ngôi, Đinh Công Bách cùng các Lạc hầu Lạc tướng của nước Văn Lang không thần phục vua mới, liền đưa Hùng Kính vương chạy trốn, chiêu binh m•i m• để chống lại Thục Phán. Trong một trận chiến đấu kiên cường, vì tuổi cao sức yếu, Công Bách đã ngoài 80 tuổi nên ông đã hy sinh lẫm liệt.

    Cuộc chiến đấu chống lại An Dương vương Thục Phán tiếp tục được Bảo Ngọc Công chúa, Đinh Linh Quang, Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, cùng các Lạc hầu Lạc tướng phò giúp cho Hùng Kính vương chiến đấu kiên cường, bền bỉ trong 6
    năm trời.

    Trong một trận chiến đấu không cân sức, Bảo Ngọc Công chúa chiến đấu rất dũng cảm, nhưng quân giặc quá đông, binh lực của Bảo Ngọc ít, nàg cầm cự đến phút chót, trên minhd có vô số vết thương rất phạm. Thấy không thể chống cự được nữa, nàng đã tự vẫn trước mặt quân giặc thật lẫm liệt, làm cho chúng vô cùng kinh hãi. Đó là ngày mùng 1 tháng 12 năm 251 trước Công Nguyên, ngay gần quê nội, trang Ngô Đồng, huyện Bất Bạt, Châu Hoa.

    Thấy chị đã anh dũng hy sinh, Đinh Linh Quang cũng về cái Giếng Tỉnh, nơi mình sinh ra tại quê nội gần trang Ngô Đồng mà hoá. Đó là ngày mùng 5 tháng 12 năm 251 trước Công Nguyên, hoá sau Bảo Ngọc Công chúa 4 ngày.
    Hùng Kính vương được Tản Viên Sơn Thánh, thấy không thể chống lại quân Thục được, đành đưa vua đi ẩn cư trên núi. Chử Đồng Tử về Khoái Châu. Các Lạc hầu Lạc tướng còn lại cũng về quê hương bản quán làm thần dân của Thục Vương.
    Đến đây là kết thúc một nhà nước đã trải qua 2.796 năm, nếu công thêm 6 năm của Hùng Kính vương nữa là 2.802 năm, liên tục có mặt trên chính trường nước Văn Lang, một quốc gia cổ đại ở Việt Nam chúng ta.

    Vậy là cả ba cha con Tướng quân Đinh Công Bách đã hy sinh anh dũng cho non sông đất nước để bảo vệ quốc gia Văn Lang. Những công huân vĩ tích và tên tuổi của ba cha con ông, cần phải được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của nhà nước ta. Đó mới là Tri ân tiên tổ, Hướng về cội nguồn dân tộc theo đúng chủ trương của đảng và nhà nước ta hiện nay. Thiết nghĩ, nếu không làm được như thế thì thật có tội với tiền nhân, có tội với các di tích đặc biệt này.

    Một di tích cổ và lộng lẫy như vậy, nhưng hiện nay bà con làng Doãn Thượng vẫn rất mong muốn được nâng cấp bằng công nhận Di tích của tỉnh Bắc Ninh lên cấp Nhà Nước. Song, với một miền quê thuần nông lấy đâu ra kinh phí. Mà giờ đây những việc như thế cũng tốn tiền lắm. Chúng tôi đã được nghe các bô lão tường thuật lại những gợi ý của các cán bộ ngành này về việc ấy…thật cám ảnh vô cùng, đau khổ vô cùng…Đến bao giờ mới xoá bỏ được tệ nạn như thế.

    Nhưng chúng tôi cho rằng, trước hết bà con Đinh tộc Việt Nam phải thấm nhuần trước, hiểu trước. Họ Đinh trong cả nước, song song với việc về Hoa Lư bái yết Vua Đinh, cần về làng Doãn Thượng, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để mắt thấy, tai nghe, tay sờ…những di vật vô giá đang được lưu giữ tại đình thờ Tướng quân Đinh Công Bách và nghe về những công huân vĩ tích của ba người họ Đinh xa xưa nhất của chúng ta, cho đến hiện nay. Cần suy nghĩ và cảm nhận, thậm chí có một cuộc vận động quyên góp để giúp bà con Doãn Thượng, đã có công gìn giữ tốt ngôi đình và những báu vật qua 23 thế kỷ, có điều kiện để trùng tu lại một số hạng mục đã xuống cấp trầm trọng cũng như nâng cấp độ của Di tích Lịch sử tử tỉnh lên Quốc gia v.v…Chúng ta hãnh diện rằng, họ Đinh Việt Nam đã có ít nhất ba người lẫm liệt phò tá cho Hùng Duệ vương. Có phải họ mạc nào cũng được như vậy đâu?

    Đó là một điều cần thiết và nên thực hiện của mỗi người họ Đinh Việt Nam, nếu muốn tri ân tiên tổ.

    Làng Doãn Thượng ngày 11/11/ 2012.
    Nhà nghiên cứu Sử học Đinh văn Đạt

    Những hình ảnh của Buổi dâng hương tại đền thờ Tướng quân Đinh Công Bách


    [IMG]
    .

    [IMG]
    .

    [IMG]
    .

    [IMG]
    .

    [IMG]
    .

    [IMG]
    .

    [IMG]
    .
    TuananhBNDinhThiThuThuy thích nội dung này.

Chia sẻ trang này