Giải mã liên hệ giữa điệu Múa Xuân Phả và Đền Thờ Vua Đinh Xứ Thanh

Thảo luận trong 'Trao đổi, gắn kết, giao lưu.' bắt đầu bởi Đinh Danh Vùng, 20/1/18.

  1. Đinh Danh Vùng Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    17/12/12
    Số bài viết:
    160
    [IMG]
    Ảnh của Đinh Hồng Cường

    Trò Xuân Phả được công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia; hệ thống trò diễn Xuân Phả gồm 5 trò: Hoa Lang, Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc và Tú Huần (Lục Hồn Nhung), phản ánh việc sứ thần các nước lân bang đến tiến cống Triều vua Đại Cồ Việt và nghinh bái Thành hoàng nước Nam… Xin được trân trọng giới thiệu bài ảnh của Thạc sỹ Đinh Hồng Cường - Nhà Nghiên cứu về Lịch sử và Văn hóa Việt Nam tại Hà Nội, đăng trên trang facebook cá nhân:

    Hiện nay, tại làng Quan Thành, xã Thọ Tân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa còn lưu giữ được ngôi đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng đế (tuy xuống cấp). Thật khó hình dung vì xưa kia, sau khi Ngô Tiên chúa băng hà năm 944, Dương Tam Kha (em ruột của Dương hậu, vợ của Ngô Quyền) tiếm ngôi, Giao Châu (Giao Chỉ) bị phân rã, chia cắt và nội loạn.

    Ngô Xương Xí (gọi Ngô Quyền là ông nội) cùng gia tướng, con cháu nội tộc và binh lính buộc phải rời kinh đô Cổ Loa chạy loạn về xứ Thanh, đắp thành lũy tại Bình Kiều (theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục) hình thành Ngô sứ quân (một trong số 12 sứ quân – thập nhị sứ quân). Thành nằm lọt vào giữa vùng đất cách thành phố Thanh Hóa 25 km về phía Đông, cạnh dãy Cửu Noãn Sơn, liền kề phía bắc núi Nưa thuộc huyện Như Thanh . Vùng đất này ngày nay thuộc về xã Hợp Lý, Hợp Tiến, Hợp Thành thuộc huyện Triệu Sơn , tỉnh Thanh Hóa.

    [IMG]
    Ảnh của Đinh Hồng Cường

    Theo Wikipedia.org/wiki/Ngô_Xương_Xí, mục Hàng phục họ Đinh chép: “Bổ sung từ nguồn truyền thuyết kết hợp với di tích sưu tầm được ở Thanh Hóa cho biết, Khi Đinh Bộ Lĩnh tiến hành thu phục Bình Kiều của sứ quân Ngô Xương Xí, ông hành quân vào Ái Châu, đóng quân tại sườn Cửu Noãn Sơn, có thần nhân (mưu sĩ?) mách bảo: không cần đánh, chỉ cần mở tiệc khao quân, Xương Xí hoảng sợ tất phải xin hàng. Nay ở xã Thọ Tân có đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng.

    Theo cách tiếp cận trên, có mấy vấn đề cần đặt ra.

    Thứ nhất, Đinh Bộ Lĩnh đưa quân vào Ái Châu để dụ hàng sứ quân Ngô Xương Xí (vốn dòng dõi đế vương, được quân dân sùng ái) lại được nhân dân địa phương lập đền thờ, mà đáng lẽ ra phải là đền thờ Ngô Xương Xí mới phải?

    [IMG]
    Ảnh của Đinh Hồng Cường

    Thứ hai, vị thần nào đã phò giúp sứ quân Đinh Bộ Lĩnh?
    Nhân dịp được một người bạn cùng họ Đinh tha thiết mời vào làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, viếng thăm nghè Xuân Phả, nơi thờ ngài Đại Hải Long Vương và bà Thứ phi của Vua Đinh, Đàm Thị Huề (sử liệu ghi là Nguyệt Nương) đã dạy dân địa phương các điệu múa Xuân Phả, đoàn của chúng tôi quyết một chuyến vào tận nơi mục sở thị, giải mã mối liên hệ giữa miếu nghè thờ vị chúa đất thành hoàng làng – ngài Đại Hải Long Vương và đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng.

    Khoảng 8h30, ngày 18/01/2018 (tức 02 tháng Chạp, năm Đinh Dậu 2017), chúng tôi đã có mặt ở miếu Nghè. Tiếp đón chúng tôi có anh Bùi Văn Hùng, Phó Chủ tịch xã Xuân Trường, anh Đỗ Văn Hiền, Bí thư xã Xuân Trường, bác Đỗ Bệ thủ nghè và vợ chồng anh Đinh Quang Phú, con cháu họ Đinh xứ Thanh, người rất tâm huyết với những điệu múa Xuân Phả của cha ông.

    [IMG]
    Ảnh của Đinh Hồng Cường

    Trong khi mấy anh chị em con cháu dòng họ Đinh đang sắp lễ, tôi tranh thủ thời gian tìm hiểu dấu vết lịch sử và được bác chủ nhang cho biết, ngôi miếu này đã có từ thời Vua Đinh. Nhưng vì phong hóa và chiến tranh liên miên, vào thời kỳ cải cách ruộng đất 1953 - 1954 của thế kỷ 20, miếu đã bị đốt cháy rụi, bao sắc phong cùng với bản thần phả (thần tích, ngọc phả) cũng tan theo mây khói, Nghè này mới được dựng lại bằng xi măng, cốt thép cách nay vài năm. Cả làng mừng vui như “vào đám” vậy. Những tích trò diễn Xuân Phả, được bảo tồn trong dân gian nay lại được dịp bùng lên, rộn ràng trước sân miếu Nghè, vào dịp đầu xuân 10/2 âm lịch hàng năm, năm làng mở trại hội, dâng các tích trò lên ngài Chúa đất Đại Hải Long Vương.

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    Còn nhớ năm xưa, thời đất nước tao loạn, sứ quân Đinh Bộ Lĩnh đưa quân lính vào chiêu hàng sứ quân Ngô Xương Xí. Dừng chân trước cửa miếu, ông cho dựng trại, khao quân. Đêm nghỉ lại trong miếu và được vị Thành hoàng làng Đại Hải Long Vương báo mộng, bầy kế hàng phục cánh quân Ngô Xương Xí mà không phải tốn đến một mũi tên hòn đạn, tránh được cái họa đầu rơi máu chảy, anh em huynh đệ tương tàn.

    Nghĩa quân Đinh Bộ Lĩnh vì thế mà tăng thêm sức mạnh, rút ngắn thời gian thống nhất giang san, thu nhân tâm quy về một mối. Năm 968, Vua lên ngôi, xưng Đinh Tiên Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, xây dựng triều đình, đặt triều nghi, chế quan phẩm phục, lấy Hoa Lư – Ninh Bình làm nơi Đế đô.

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    Định xong danh vị, ban thưởng cho các tướng lĩnh có công, Vua ngày đêm không quên ơn thần, đã quyết định trở vào xứ Thanh, lập đàn lễ tạ ơn và phong tặng thần là Đại Hải Long Vương. Vua lại giao cho bà Hoàng hậu Nguyệt Nương (người dân địa phương gọi bà là Thứ phi Đàm Thị Huề), quê Hà Nam ở lại chủ trì việc dạy dân múa hát để tế lễ, tri ân công đức của thần. Bà xuất thân vốn là một ca vũ cung đình, đã tiếp thu các điệu múa của các nước lân bang và huấn luyện thành đội múa hàng. Hàng năm, cứ đến ngày 10 / 2 âm lịch, bà trực tiếp hướng dẫn đội múa đến biểu diễn tại cửa miếu Nghè thờ thần Đại Hải Long Vương. Về sau, dân làng Xuân Phả xin bà truyền bá điệu múa ấy cho dân làng tự tập, tự diễn. Từ đấy trở đi, điệu múa cũng có tên là múa Xuân Phả (hay còn gọi là Ngũ quốc lân bang đồ cống tiến) và được các thế hệ người dân lưu truyền đến ngày nay, trở thành một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo ở xứ Thanh. Xin giới thiệu sơ lược 5 trò múa Xuân Phả như sau:

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    1 - Trò Hoa Lang: Tượng trưng cho người Hà Lan (Tây phương). Trò Hoa Lang với các nhân vật ông, cháu, mế nàng và mười quân. Trang phục gồm áo dài, đầu đội mũ cao da bò, tay trái cầm quạt tay phải mái chèo, đeo mặt nạ cũng làm bằng da bò phết sơn trắng, mắt có lông công. Mũ Chúa được chạm rồng, chạm mặt nguyệt ở mũ Quân.

    2 - Trò Tú Huần: Tượng trưng cho người Thổ Hồn Nhung (Mông Cổ). Trò Tú Huần đầu đội mũ loóng làm từ tre, đeo mặt nạ gỗ miêu tả bà cố, mẹ và mười người con. Mũ tre đan như rế nồi úp ngược có lạt tre làm tóc bạc, đội trên miếng khăn vuông vải đỏ bịt đầu tóc. Mặt nạ gỗ sơn trắng vẽ mắt mồm màu đen rất "kinh dị". Mặt bà cố nhăn nheo, mặt người mẹ thì già nua còn mười người con được chia thành năm cặp, mặt vẽ theo độ tuổi từ trẻ đến già với 1, 2,…5 cái răng tương xứng.

    3 - Ai Lao: Tượng trưng người Thái-Lào. Trò Ai Lao gồm có Chúa Lào, người hầu, lính bảo vệ (mười quân), voi và hổ nhảy múa theo tiếng xênh tre được gõ nhịp liên hồi, biểu trưng cho sức mạnh săn bắt nhưng cũng rất mềm mại, uyển chuyển. Chúa đầu đội mũ cánh chuồn mặc áo chàm xanh. Quân lính đội mũ rễ si, quấn phá ngang vai, chân mang xà cạp và tay cầm xênh tre.

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    4 - Ngô Quốc: Tượng trưng người Trung Hoa. Trò Ngô Quốc có hai nàng tiên, ông chúa và mười quân đầu đội nón lính, áo màu lam, tay cầm mái chèo. Đầu màn có xuất hiện nhân vật người bán thuốc, người bán kẹo và thầy địa lý múa một đoạn ngẫu hứng rồi nhường chỗ cho các nàng tiên cùng chúa và đoàn quân đi ra. Màn diễn gồm các điệu múa quạt, múa khăn rồi múa mái chèo.

    5 - Trò Xiêm Thành: Tương trưng người Champa. Trò Chiêm Thành ngoài chúa, quân còn có thêm nhân vật phỗng. Áo chúa bằng đậu, áo quân bằng lụa, đều nhuộn màu đỏ hồng và không thêu thùa hoa văn. Chúa và quân đều vấn khăn vuông đỏ thành hai sừng thẳng đứng trên đầu. Áo phỗng là cổ sòi, cổ xiêm quấn xung quanh mình.

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    Trong 5 trò múa trên, chỉ ba điệu Hoa Lang, Tú Huần và Xiêm Thành có mặt nạ. Đặc biệt trò Hoa Lang, Xiêm Thành người ta không đeo mà ngậm mặt nạ nửa mặt dưới bởi một nút gỗ vào miệng.

    Vì Vua Đinh Tiên Hoàng đế là người ăn ở có Lễ Nghĩa, lại biết cùng hậu Nguyệt Nương dạy dân điệu múa Xuân Phả để kính dâng lên vị Thành hoàng làng Đại Hải Long Vương nên khi Vua băng hà (979), người dân xứ Thanh đã lập đền thờ Vua tại làng Quan Thành, xã Thọ Tân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ghi nhận những công đức lớn lao ấy.
    Thế mới hay: “Thương dân dân lập đền thờ”.

    Thật là một đại duyên lành, đoàn Phật tử chúng tôi có được dịp đến chiêm bái một nơi linh địa, vì hơn một ngàn năm có lẻ, các thế hệ con cháu dòng họ Đinh và các đạo hữu chúng tôi mới biết quay lại nơi đây, thành tâm cảm tạ và tri ân công đức của ngài Đại Hải Long Vương.

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    Nhân dịp này, xin đền Trời soi tỏ và Phật pháp nhiệm mầu, chúng con cầu xin Trời, Bụt, Thánh, thần và các vị tối linh ở trên trời cao gia trì phù hộ cho muôn dân ở làng Xuân Phả được sống trong cảnh thái hòa, an lạc, nhà nhà được ấm no, hạnh phúc, ơn mưa móc của đạo Bụt được thấm nhuần ba cõi. Ngài Đại Hải Long Vương linh thiêng, che chở cho con cháu nhà ngài và cầu chúc cho điệu múa Xuân Phả được đông đảo bè bạn trong nước và quốc tế đón nhận, tôn vinh như một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong tương lai gần. (Tháng 10/2016, điệu múa Xuân Phả đã chính thức được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Việt Nam vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia).

    [IMG]
    Ảnh nguồn internet

    Ngược dòng lịch sử về thời kỳ các vị Vua Hùng dựng nước, nhờ đức thánh Tản Viên mà quá trình trị thủy, làm nông nghiệp của người Việt cổ đã giảm bớt lũ lụt. Thục phán An Dương Vương nhờ ơn thần Kim Quy mới xây được kinh thành Cổ Loa. Rồi sau này, đến thời đại nhà Lý, Vua Lý Thái Tổ nhờ thần Bạch Mã mới xây được kinh thành Thăng Long, Vua Lý Thái Tông nhờ thần Đồng Cổ mà dẹp tan quân Chiêm Thành… Như vậy, Tổ tiên và con cháu dòng giống Việt từ khởi thủy đến nay luôn biết nương tựa và kính sợ các vị nhiên thần, thiên thần, giúp cho quốc gia được hưng vượng, mưa thuận gió hòa, mùa màng được tươi tốt và muôn dân trăm họ trong vùng được sống trong cảnh thái bình thịnh trị. Âu cũng là cách giáo dục con người biết kính sợ trước người Mẹ thiên nhiên hùng vĩ. Đây cũng chính là bài học về đạo lý mà mỗi người dân Việt chúng ta nên thuộc nằm lòng để trưởng dưỡng nhân cách và đạo đức trong việc ứng xử với môi trường xung quanh.

    Trong dòng tâm thức trên, ngài Đại Hải Long Vương xứng đáng được sử sách lưu truyền như một vị “Thượng đẳng thần” phò Vua giúp Nước – “HỘ QUỐC TÍ DÂN”.

    Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2018.
    Khai Minh Quốc - Đinh Hồng Cường

Chia sẻ trang này