CÁC ĐẠO SẮC PHONG CỦA CÁC TRIỀU VUA TẠI TỪ ĐƯỜNG HỌ ĐINH XÃ CHI LĂNG, HƯNG HÀ, THÁI BÌNH

Thảo luận trong 'họ Đinh Nông Kỳ - Thái Bình' bắt đầu bởi Đinh Danh Vùng, 6/5/14.

  1. Đinh Danh Vùng Moderator

    Ngày tham gia:
    17/12/12
    Số bài viết:
    159
    CÁC ĐẠO SẮC PHONG CỦA CÁC TRIỀU VUA
    TẠI TỪ ĐƯỜNG HỌ ĐINH XÃ CHI LĂNG, HƯNG HÀ, THÁI BÌNH


    Người dịch: Tiến sĩ Mai Hồng
    Người hiệu đính: Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Hoài tức Đinh Xuân Hải

    Các Đạo sắc phong của các triều Vua phong cho ông Tổ họ Đinh lưu thờ tại Từ đường họ Đinh xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

    [IMG]

    ĐẠO SẮC THỨ 1: Năm Vĩnh Thịnh thứ 9 (1713), thời Vua Lê Dụ Tông và Chúa Trịnh Cương (phong cho ông Đinh Lễ).

    Phiên âm Hán - Việt:

    Sắc:

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù vận hộ quốc. Trung dũng tá thánh. Quảng tế trợ dân. Hiển đức hoằng hưu. Tế thế trạch dân. Chí nhân hậu đức. Phong công trợ thuận phù hưu. Phổ trạch tĩnh nạn thùy hưu. Dương vũ uy dũng. Anh đoán thần vũ. Hùng tài vĩ lược. Phấn dương bảo trị. Diễn phúc tuy lộc. Hiến mưu tế quốc. Anh vũ thần đoán. An dân phụ vật. An quốc phù vận. Bổ trị nguyên đức. Thạc vọng cao huân Hồng Liệt Đại Vương.

    Quá nhân khí khái. Cái thế tế thời. Đa dực tán chi huân. Phi chiêu trúc bạch. Hộ quốc diễn linh trường chi khánh. Huy ánh thái bàn ký thần cảm ứng chi cơ. Cái cử phong chi điển. Vi

    Tự Vương lâm cư Chính phủ, tôn phù Vương gia, củng cố hồng đồ, lễ hữu đăng trật, ứng gia phong khả gia phong:

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù vận hộ Quốc. Trung dũng tá thánh. Quảng tế trợ dân. Hiển đức hoằng hưu. Tế thế trạch dân. Chí nhân hậu đức. Phong công trợ thuận phù hưu. Phổ trạch tĩnh nạn thùy hưu. Dương vũ uy dũng. Anh đoán thần vũ. Hùng tài vĩ lược. Phấn dương bảo trị. Diễn phúc tuy lộc. Hiến mưu tế quốc. Anh vũ thần đoán. An dân phụ vật. An quốc phù vận. Bổ trị nguyên đức. Thạc vọng cao huân Hồng Liệt Đại Vương
    Cố
    Sắc
    Vĩnh Thịnh cửu niên bát nguyệt sơ thập nhật.

    Dịch nghĩa:

    Sắc ( phong cho ):

    Nhập Nội Tư Không (1) Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù giúp vận mệnh bảo vệ Đất nước. Trung thành dũng cảm phò tá đức Vua. Cứu đời rộng khắp. Giúp đỡ nhân dân. Đức sáng ngời ngời. Cứu đời dân ơn. Chí nhân dầy đức. Công cao phù giúp lẽ thuận, lưu danh muôn thuở. Ân đức sâu rộng dẹp loạn còn lưu truyền mãi mãi. Võ công lừng tiếng. Dũng mãnh uy phong. Sáng xuốt quả đoán. Biến hóa như thần. Tài cao mưu giỏi. Gắng sức giữ nền thịnh trị. Phúc bền lộc vững. Hiến mưu giữ nước. Anh hùng vũ dũng. Quyền biến khôn lường. Yên dân giầu của. Yên nước vận cường. Đức đứng hàng đầu. Công cao sừng sững Hồng Liệt Đại Vương (2).

    Khí khái hơn người. Cửu thời trùm đời. Nhiều công giúp rập. Rạng rỡ sử xanh. Giúp nước lâu dài. Niềm vui bất tận. Huy hoàng bàn thạch, đó là cái cơ cảm ứng của thần. Bởi lẽ việc sách phong theo điển. Đến khi

    Chúa Thượng lên ngôi, tham dự triều chính; giúp rập Vương gia, củng cố cơ đồ to lớn, lễ có thứ bậc, đáng gia phong tất phải gia phong (cho):

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù giúp vận mệnh bảo vệ Đất nước. Trung thành dũng cảm phò tá đức Vua. Cứu đời rộng khắp. Giúp đỡ nhân dân. Đức sáng ngời ngời. Cứu đời dân ơn. Chí nhân dầy đức. Công cao phù giúp lẽ thuận, lưu danh muôn thủa. Ân đức sâu rộng dẹp loạn còn lưu truyền mãi mãi. Võ công lừng tiếng. Dũng mãnh uy phong. Sáng suốt quả đoán. Biến hóa như thần. Tài cao mưu giỏi. Gắng sức giữ nền thịnh trị. Phúc bền lộc vững. Hiến mưu giữ nước. Anh hùng vũ dũng. Quyền biến khôn lường.Yên dân giầu của. Yên nước vận cường. Đức đứng hàng đầu. Công cao sừng sững. Hồng Liệt Đại Vương.
    Vậy nên
    Ban Sắc
    Ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Thịnh thứ 9 (1714).

    Ghi chú :
    1. Tư Không: Là một trong ba chức rất lớn trong triều đình xưa ( Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không ), gọi tắt là Tam Tư, thường có hàm Nhất phẩm, trên cả Thượng Thư.
    2. Hồng liệt: Nghĩa là có công lớn. Sách Hậu Hán thư có câu: “ Khải phi tổ tông dịch triết trùng quang chi hồng liệt dư ? ”. Tạm dịch là: “ Há chẳng phải cái công to lớn tài trí của tổ tông trong sự nghiệp trung hưng đó sao? ”


    ĐẠO SẮC THỨ 2: Năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), thời Vua Lê Duy Phường và Chúa Trịnh Giang (phong cho ông Đinh Lễ).

    Phiên âm Hán -Việt

    Sắc:

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù vận hộ Quốc. Trung dũng tá thánh. Quảng tế trợ dân. Hiển đức hoằng hưu. Tế thế trạch dân. Chí nhân hậu đức. Phong công trợ thuận phù hưu. Phổ trạch tĩnh nạn thùy hưu. Dương vũ uy dũng. Anh đoán thần vũ. Hùng tài vĩ lược. Phấn dương bảo trị. Diễn phúc tuy lộc. Hiến mưu tế quốc. Anh vũ thần đoán. An dân phụ vật. An quốc phụ cường. Bổ trị nguyên đức. Thạc vọng cao huân Hồng Liệt Đại Vương.

    Tối tú tối linh. Nãi văn lãi võ. Diệu vi mạc trắc. Đặc thần cảm ứng chi cơ. Du cửu vô cương. Vĩnh hộ miên hồng chi tộ. Trung ký phù thân tứ điển. Nghi cử bao phong vi xung nhân quang thụ thiền truyền . Kim

    Tự Vương tiến phong Đại Vương vị, lễ hữu đăng trật, ứng nhất thể gia phong khả gia phong:

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù vận hộ quốc. Trung dũng tá thánh. Quảng tế trợ dân. Hiển đức hoằng hưu. Tế thế trạch dân. Chí nhân hậu đức. Phong công trợ thuận phù hưu. Phổ trạch tĩnh nạn thùy hưu. Dương vũ uy dũng. Anh đoán thần vũ. Hùng tài vĩ lược. Phấn dương bảo trị. Diễn phúc tuy lộc. Hiến mưu tế quốc. Anh vũ thần đoán. An dân phụ vật. An quốc phụ cường. Bổ trị nguyên đức. Thạc vọng cao huân Hồng liệt huy nhu. Ý cung minh doãn. Đốc thực Đại Vương.

    Cố
    Sắc
    Vĩnh Khánh nhị niên thập nhị nguyệt sơ thập nhật.

    Dịch nghĩa:

    Sắc (phong cho):

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc Công: Phù giúp vận mệnh bảo vệ Đất nước. Trung thành dũng cảm phò tá đức Vua. Cứu đời rộng khắp. Giúp đỡ nhân dân. Đức sáng ngời ngời. Cứu đời dân ơn. Chí nhân dầy đức. Công cao phù giúp lẽ thuận, lưu danh muôn thuở. Ân đức sâu rộng dẹp loạn còn lưu truyền mãi mãi. Võ công lừng tiếng. Dũng mãnh uy phong. Sáng xuốt quả đoán. Biến hóa như thần. Tài cao mưu giỏi. Gắng sức giữ nền thịnh trị. Phúc bền lộc vững. Hiến mưu giữ nước. Anh hùng vũ dũng. Quyền biến khôn lường. Yên dân giầu của. Yên nước vận cường. Đức đứng hàng đầu. Công cao sừng sững Hồng Liệt Đại Vương.

    Chí hằng ấp ủ giúp nước lập công. Văn giỏi võ mạnh. Xưa ngầm giúp rập sự nghiệp đã thành. Ban bố rộng khắp, nêu rõ ngọn ngành. Muốn lưu truyền tiếng thơm sử sách đến muôn đời sau. Cơ hồ giữ cho đất nước yên lành, giang sơn bền vững. Linh thiêng hiển hách. Nay

    Chúa Thượng tiến phong
    Đại Vương vị, lễ có thứ bậc, hoàn toàn đáng gia phong tất phải gia phong (cho):

    Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Sư Bân Quốc công: Phù giúp vận mệnh bảo vệ Đất nước. Trung thành dũng cảm phò tá đức Vua. Cứu đời rộng khắp. Giúp đỡ nhân dân. Đức sáng ngời ngời. Cứu đời dân ơn. Chí nhân dầy đức. Công cao phù giúp lẽ thuận, lưu danh muôn thuở. Ân đức sâu rộng dẹp loạn còn lưu truyền mãi mãi. Võ công lừng tiếng. Dũng mãnh uy phong. Sáng xuốt quả đoán. Biến hóa như thần. Tài cao mưu giỏi. Gắng sức giữ nền thịnh trị. Phúc bền lộc vững. Hiến mưu giữ nước. Anh hùng vũ dũng. Quyền biến khôn lường. Yên dân giầu của. Yên nước vận cường. Đức đứng hàng đầu. Công cao sừng sững. Xứng danh Hồng liệt. Cung kính nghĩ rằng, đúng bậc Đại Vương.
    Vậy nên
    ban Sắc
    Ngày 10 tháng 12 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730)

    [IMG]

    ĐẠO SẮC THỨ 3: Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), thời Vua Lê Cảnh Hưng và Chúa Trịnh Khải (phong cho ông Đinh Lễ).

    Phiên âm Hán -Việt:

    Sắc:

    Suy đồng đức hiệp mưu bảo chính công thần Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, tặng Thái Sư Bân Quốc Công, bao phong:

    Phù vận hộ Quốc. Trung dũng tá thánh. Quảng tế trợ dân. Hiển đức hoằng hưu. Tế thế trạch dân. Chí nhân hậu đức. Phong công trợ thuận phù hưu. Phổ trạch tĩnh nạn thùy hưu. Dương vũ uy dũng. Anh đoán thần vũ. Hùng tài vĩ lược. Phấn dương bảo trị. Diễn phúc tuy lộc. Hiến mưu tế quốc. Anh vũ thần đoán. An dân phụ vật. An quốc phù vận. Bổ trị nguyên đức. Thạc vọng cao huân. Gia mô Hồng Liệt. Huy nhu ý cung. Minh doãn đốc thự. Khoan hậu chính trực. Quảng trạch hồng ân. Khuông vận tế trị Đại Vương. Tam quang dựng tú. Ngũ nhạc chung linh. Tại thượng dương dương. Đại hãn trừ tai chi lực. Quyết linh trạc trạc. Thần bảo dân hộ quốc chi công. Tướng hữu ký đa. Bao phong cái xỉ. Vi

    Tự Vương tiến phong
    Vương vị, lâm cư Chính phủ. Lễ hữu đăng trật. tái phụng chuẩn gia triêm, ứng gia phong, khả gia phong:

    Suy đồng đức hiệp mưu bảo chính công thần Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, tặng Thái Sư Bân Quốc Công, bao phong:

    Phù vận hộ Quốc. Trung dũng tá thánh. Quảng tế trợ dân. Hiển đức hoằng hưu. Tế thế trạch dân. Chí nhân hậu đức. Phong công trợ thuận phù hưu. Phổ trạch tĩnh nạn thùy hưu. Dương vũ uy dũng. Anh đoán thần vũ. Hùng tài vĩ lược. Phấn dương bảo trị. Diễn phúc tuy lộc. Hiến mưu tế quốc. Anh vũ thần đoán. An dân phụ vật. An quốc phù vận. Bổ trị nguyên đức. Thạc vọng cao huân. Gia mô Hồng Liệt. Huy nhu ý cung. Minh doãn đốc thực. Khoan hậu chính trực. Quảng trạch hồng ân. Khuông vận tế trị. Thạc đức hoành tài. Vĩ vọng Đại Vương.
    Cố
    Sắc.
    Cảnh Hưng tứ thập niên thất nguyệt nhị thập lục nhật.

    Dịch nghĩa:

    Sắc ( phong cho ):

    Quan Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, được tặng phong Thái Sư Bân Quốc Công là bậc công thần có lòng trung thành và đức độ, dốc lòng bàn mưu tính kế bảo vệ chính quyền, nay phong cho ( đã có công ):

    Phù giúp vận mệnh bảo vệ Đất nước. Trung thành dũng cảm phò tá đức Vua. Cứu đời rộng khắp. Giúp đỡ nhân dân. Đức sáng ngời ngời. Cứu đời dân ơn. Chí nhân dầy đức. Công cao phù giúp lẽ thuận, lưu danh muôn thuở. Ân đức sâu rộng dẹp loạn còn lưu truyền mãi mãi. Võ công lừng tiếng. Dũng mãnh uy phong. Sáng suốt quả đoán. Biến hóa như thần. Tài cao mưu giỏi. Gắng sức giữ nền thịnh trị. Phúc bền lộc vững. Hiến mưu giữ nước. Anh hùng vũ dũng. Quyền biến khôn lường. Yên dân giầu của. Yên nước vận cường. Đức đứng hàng đầu. Công cao sừng sững. Mưu hay công lớn. Ôn hòa cung kính. Trong sáng trung thành. Lượng cả đức ngay. Ơn sâu nghĩa nặng. Đức Đại Vương dựng nền thịnh trị. Trời đất hun đúc. Núi sông dưỡng dục. Như một sức mạnh to lớn vời vợi diệt hoạn trừ tai ở trên. Công lao hiển hách giúp nước giữ dân của thần linh như sông biển ngời ngời. Ngầm giúp đã nhiều. Tặng phong không tiếc. Đến khi

    Chúa Thượng tiến phong
    Vương vị, tham gia Chính Phủ. Lễ có thứ bậc. Lại xem xét cẩn thận, gia phong sẽ được gia phong (cho):

    Quan Nhập Nội Tư Không Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự , được tặng phong Thái Sư Bân Quốc Công là bậc Công thần có lòng trung thành và đức độ, dốc lòng bàn mưu tính kế bảo vệ chính quyền, nay phong cho ( đã có công ):

    Phù giúp vận mệnh bảo vệ Đất nước. Trung thành dũng cảm phò tá đức Vua. Cứu đời rộng khắp. Giúp đỡ nhân dân. Đức sáng ngời ngời. Cứu đời dân ơn. Chí nhân dầy đức. Công cao phù giúp lẽ thuận, lưu danh muôn thuở. Ân đức sâu rộng dẹp loạn còn lưu truyền mãi mãi. Võ công lừng tiếng. Dũng mãnh uy phong. Sáng suốt quả đoán. Biến hóa như thần. Tài cao mưu giỏi. Gắng sức giữ nền thịnh trị. Phúc bền lộc vững. Hiến mưu giữ nước. Anh hùng vũ dũng. Quyền biến khôn lường. Yên dân giầu của. Yên nước vận cường. Đức đứng hàng đầu. Công cao sừng sững. Mưu hay công lớn. Ôn hòa cung kính. Trong sáng trung thành. Lượng cả đức ngay. Ơn sâu nghĩa nặng. Dựng nền thịnh trị. Đức cả tài cao. Chiêm ngưỡng tấm gương sáng và lớn của Đại Vương
    Vậy nên
    ban Sắc
    Ngày 26 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783)


    ĐẠO SẮC THỨ 4: Năm Khải Định thứ 9 (1924), thời Vua Nguyễn Hoằng Tông ( phong cho ông Đinh Lễ ).

    Phiên âm Hán -Việt:

    Sắc :

    Thái Bình tỉnh, Tiên Hưng phủ, Y Đốn tổng, Ngoại Thôn phụng sự: Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, Thái Sư Bân Quốc Công, húy Đinh Lễ, Phù Vận Đại Vương Tôn Thần, hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng.

    Tứ kim chính trị Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, Tứ phong vi: Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần. Chuẩn kỳ phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

    Khâm tai
    .
    Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

    Dịch nghĩa:

    Sắc (phong cho):

    Làng Đún Ngoại, tổng Y Đốn, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình phụng thờ vị Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, Thái Sư Bân Quốc Công, tên húy là Đinh Lễ, là bậc Phù Vận Đại Vương Tôn Thần, có công giữ nước, cứu giúp muôn dân, linh thiêng hiển hách.

    Nay đúng vào dịp lễ lớn mừng Trẫm 40 tuổi, trước đây đã từng ban ân giáng chiếu tặng phong ngôi thứ, nay lại phong là Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần. Chuẩn cho phụng thờ. Thần hãy bảo vệ nhân dân của Trẫm.

    Hãy kính cẩn tuân theo.

    Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

    [IMG]

    ĐẠO SẮC THỨ 5:

    Năm Khải Định thứ 9 (1924), thời Vua Nguyễn Hoằng Tông ( phong cho ông Đinh Liệt ).

    Phiên âm Hán -Việt:

    Sắc ( phong cho ):
    Thái Bình tỉnh, Tiên Hưng phủ, Y Đốn tổng, Ngoại Thôn phụng sự: Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, Thái Sư Lân Quốc Công, húy Đinh Liệt, Trung Mục Đại Vương Tôn Thần, hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng.

    Tứ kim chính trị Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, Tứ phong vi: Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần. Chuẩn kỳ phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

    Khâm tai.

    Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

    Dịch nghĩa:

    Sắc (phong cho):

    Làng Đún Ngoại, tổng Y Đốn, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình phụng thờ vị Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, Thái Sư Lân Quốc Công, tên húy là Đinh Liệt, là bậc Trung Mục Đại Vương Tôn Thần, có công giữ nước, cứu giúp muôn dân, linh thiêng hiển hách.

    Nay đúng vào dịp lễ lớn mừng Trẫm 40 tuổi, trước đây đã từng ban ân giáng chiếu tặng phong ngôi thứ, nay lại phong là Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần. Chuẩn cho phụng thờ. Thần hãy bảo vệ nhân dân của Trẫm.

    Hãy kính cẩn tuân theo.

    Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)


    ĐẠO SẮC THỨ 6: Năm Khải Định thứ 9 (1924), thời Vua Nguyễn Hoằng Tông (phong cho ông Đinh Phúc Diên).

    Phiên âm Hán Việt:

    Sắc ( phong cho ):

    Thái Bình tỉnh, Tiên Hưng phủ, Y Đốn tổng, Ngoại Thôn phụng sự: Trung Hưng Công Thần, Thiếu Úy Dương Quận Công, Đinh Phúc Diên Tôn Thần, hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng.

    Tứ kim chính trị Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, Tứ phong vi: Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Chuẩn kỳ phụng sự. Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

    Khâm tai.

    Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

    Dịch nghĩa:

    Sắc (phong cho):

    Làng Đún Ngoại, tổng Y Đốn, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình phụng thờ vị Trung Hưng Công Thần, Thiếu Úy Dương Quận Công, Tôn Thần Đinh Phúc Diên, có công giữ nước, cứu giúp muôn dân, linh thiêng hiển hách.

    Nay đúng vào dịp lễ lớn mừng Trẫm 40 tuổi, trước đây đã từng ban ân giáng chiếu tặng phong ngôi thứ, nay lại phong là Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Chuẩn cho phụng thờ. Thần hãy bảo vệ nhân dân của Trẫm.

    Hãy kính cẩn tuân theo.

    Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924).
    Dinh Quang Viet, dinhkhacthienadministrator thích nội dung này.

Chia sẻ trang này