Nhớ về thành cổ Quảng Trị

Thảo luận trong 'Tản Văn - Ký - Hoài niệm' bắt đầu bởi Dinh Trong Phuc, 7/11/11.

  1. Dinh Trong Phuc Moderator

    Ngày tham gia:
    12/8/10
    Số bài viết:
    150
    Địa điểm:
    san jose CA
    [IMG]
    CỔNG THÀNH ĐINH CÔNG TRÁNG hay CỬA HỬU THÀNH CỔ QT


    <object style="height: 390px; width: 640px">


    <embed src="http://www.youtube.com/v/29chGp_tkbY?version=3&feature=player_embedded" type="application/x-shockwave-flash" allowfullscreen="true" allowscriptaccess="always" height="300" width="500"></object>

    Ngược thời gian trở về quá khứ, tôi nhớ về thành phố xa xưa Quảng trị trong mờ nhạt như khói như sưong, một thành phố như ẩn như hiện với những gì còn sót lại trong ký ức một ngưòi xa xứ .

    Thành phố QT nói như câu thơ xưa của Hàn mặc Tử "ở đây sương khói mờ nhân ảnh" bên thôn Vĩ Dạ ngày xưa xứ Huế thì đối với tôi cái Thành Cổ năm xưa đó những sáng mù sương như ẩn như hiện như những tranh xưa Việt Sử hay trong những truyện cổ tích VN mà tôi thường học ở trường. Cửa Hậu trong làn sương sớm với trí tưởng tưởng của tuổi thơ - tôi mường tượng trong cổng thành uy nghiêm kia có những vị tướng cùng muôn ngàn tinh binh gươm giáo đầy trời. Trong thinh không vắng vẻ của ban mai mặt hồ quanh Thành Cổ bồng bềnh một màu trắng đục của màn sương như những đám mây làm trí tưởng tưởng của tôi xa thêm- cái cổng thành như ở trên mây, y như cái cổng "THIÊN ĐÌNH" trong truyện tranh tôi hay đọc vậy.

    Vầng dương lên cao , khi ánh nắng làm tan màn sương thì Thành Cổ mới trở về hiện thực của nó. Xóm tôi ở đối diện với cổng thành Cửa Hậu. Cửa Hậu còn gọi là cửa Lao Xá vì Pháp xưa kia dùng giam giữ tù chính trị. Sau này Cửa Lao xá cũng như nguyên tên cũng dùng để giam tù. Cửa Lao xá vẫn mở cho đến năm 1967 thì bị lấp kín sau khi phía Mặt Trận đánh và giải thoát gần 200 người tù. Tôi nhớ cái đêm hôm đó tôi nằm trốn dưới gầm giưong run như cầy sấy, bên ngoài đường Ngự tức con đường kiệt đâm chạy thẳng tắp về đồng An Tiêm, tiếng chân những người tù được giải thoát chạy rầm rập ngoài đường. Ông tỉnh Đông cũng được giải thoát, sau tờ mờ sáng ông lại chạy lui ngồi trước hiên nhà cậu tôi tức nơi tôi ở. Ông tỉnh Đông lúc này bận bộ đồ tù màu đen không biết là ai nên rất sợ hãi, sau này mới nghe nói là ông. Giải thoát hơn trăm người tù nhưng phía mặt trận cũng bị chết hơn mười người.

    Nhớ về Cửa Hậu tức là tôi phải kể cái mốc thời gian trước 1967 vì khi này tôi nhớ đến cái cổng thành tôi hay vô chơi. Tụi con nít như tôi ở xóm Cửa Hậu hay vô được vì mấy chú Bảo An gác thành cũng không e ngại gì lũ nhỏ này chú đã quen mặt. Thế là tụi tôi vào được thành cùng với lũ bạn con lính trong thành leo lên Thành Cổ chơi. mới biết bức tường thành dày ơi là dày! thảo nào đất ngoài thành bị mất đi tạo thành cái hồ to lớn bao quanh . Bức tường thành, như một con đê có con đường nghiêng nghiêng cho bọn tôi leo lên chơi. Ngó ra xóm Hậu, hướng về đồng An Tiêm có bờ tre cong cong mờ nhạt. bọn tôi khoan khoái biết mấy. Có đụn cát cao ai đổ sát chân thành phía ngoài chúng tôi thi nhau đứng trên thành dám to gan nhảy xuống, lại chạy vào thành leo lên nhảy xuống tiếp. Mấy chú Bảo An gác thành đứng ngó theo chỉ cười mấy chú chẳng la rầy chi.

    Có hai cái chái nhà tạm lợp tôn cho những ngày thăm nuôi tù ngoài con đường Lê văn Duyệt qua cái cầu gạch xưa đi vào cổng Lao Xá. Mỗi đợt có năm ba người tù được mấy chú lính dẫn ra gặp người nhà. Những giỏ đồ ăn, những miếng lá chuối đựng quà, những mo cơm, những lời nói năng tâm sự. Hình ảnh lưu luyến của người nhà từ dưới làng quê, những miếng cơm mang nặng hơi hám ruộng đồng và những giây phút ngắn ngủi, những người tù chính trị phải chia tay vào lại trong thành để người tù khác ra. Khi cái cổng sắt khép lại, bên trong là một thế giới khác và ngoài này là xóm Cửa Hậu thân thương muôn thuở của chúng tôi cùng những ngày tuổi thơ vui chơi hồn nhiên ăn học. Có những đêm chơi đá lon ngoài ngả ba ngó vô cổng thành, tôi nghe rõ tiếng kẽng đổi gác quanh thành, tôi còn nghe rõ mồn một tiếng con chim cuốc đều đặn kêu mãi dưới hồ .

    [IMG]
    CỔNG LAO XÁ hay là CỬA HẬU THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ năm 1969 (đã bị đóng lấp)

    Sáng lại cửa thành lại mở, có một toán đông người tù ra cổng, họ đi làm 'cỏ vê' (corvee) tức là đi làm tạp dịch ngoài tòa tỉnh hay mấy cơ quan công sở nào đó. Xế trưa toán tù đi về; khi về chiếc xe kéo theo sau nhốt mấy con chó vô chủ chạy rong ngoài đường, chúng bị mấy người tù bắt đem vô thành. Thời này chó chạy rong ngoài đường là có lệnh bắt vì thiên hạ sợ chó dại cắn vô cùng. Nhắc đến đây tôi lại nhớ hình ảnh cái thòng lọng bằng kẽm và bàn tay thiện nghệ của một người tù cùng tiếng kêu ăng ẳng của mấy con chó bị bắt; chắc rằng mấy con chó vô phúc sẽ không còn có ngày trở lại !

    Hình ảnh đoàn tù đi làm corvee ngày đó làm tôi nhớ đến cái chết của anh Thủ con bác Trợ sau xóm ông Cai Ngữ tức là ông thân của anh Khanh, anh Sỏ, anh Thăng. Khi chú lính dẫn tù về anh Thủ chạy ra gây hấn với chú lính này vì những ngày anh Thủ này ở tù trong Lao xá (tù hình sự)có tư thù với chú lính này . Khi ra tù anh Thủ chờ dịp chú lính này dẫn tù ngang qua xóm mới chạy ra gây hấn. Rũi thay gặp cơn nóng giận lại sẵn mang súng chú lính đuổi theo anh Thủ vào tận trong xóm. Những phát đạn từ khẩu súng thompson cùng hình ảnh anh Thủ nằm thoi thóp , thân hình lực lưỡng chỉ 1 cái quần đùi, anh chết trên nền nhà bác Lê bá Oa ông thân anh Lê bá Lư. ( nhà ở sau kế nhà Bích Hường cùng nhà cậu tôi) Xóm Hậu chúng tôi mất anh Thủ là mất một giọng ca vọng cổ " rất mùi" chỉ tiếc anh ham chơi mới có kết quả bi thảm đó. Nói lan man qua xóm tôi thì phải kể đến anh Sỏ em anh Khanh và anh của anh Thăng; anh Sỏ vào đại học Huế anh chưa ra sư phạm ngay mà học thêm cao học toán. Nhớ đến anh Sỏ, tôi nhớ đến mặt anh khi nào cũng đỏ gay như uống rượu, cái áo sơ mi trắng khi nào cũng xuề xòa bỏ ngoài, cùng dáng đi nhanh thoăn thoắt. Thời buổi này trai tráng trong thôn ai cũng lên đường tòng quân dù ở phía nào cũng phải tuân hành lệnh chính phủ trên ban. Trường hợp theo đuổi học vấn lên cao như anh Sỏ thì phải là hiếm hoi.

    [IMG]
    thành phố QT và THÀNH CỔ tan nát trong cuộc chiến 1972

    Tôi cứ lan man phải trở về chuyện Thành Cổ. Cửa Hậu chỉ mở cho đến 1967 còn cửa Hửu tức là cổng thành Đinh công Tráng mở cho đến ngày tan nát. Ngoài ra 2 cửa, tức là cửa Tả ngó ra đường Duy Tân, Cửa Tiền ngó ra đường Lê thái Tổ thì bị đóng từ lâu. Nhắc đến Thành thì phải nhắc đến cái hồ bao quanh thành. Đến mùa nước lên tức là mùa lũ của con sông Thạch Hãn nước tràn vào hồ lênh láng làm khổ những dãy nhà xây sát bờ hồ. Đất hẹp người đông dĩ nhiên hồ Thành cũng bị lấn nhưng chuyện này cũng giúp cá trong hồ sinh sôi nảy nở rất nhiều. Thế là lúc mùa khô về, khi hồ Thành chỉ còn xâm sấp nước cùng màu xanh của lục bình là lúc những người tù "nhà phạt" trong thành bị dẫn ra ra tát cá. Xóm Hậu chúng tôi vui lây vì tiếng ồn ào họ tát nước bắt cá dưới hồ. Cá thật nhiều ! những cái thùng phuy chẳng bao lâu lại đầy ắp cá , chúng đa số là cá tràu (lóc). Từ trên đường người dân xóm Hậu hay cả thôn chúng tôi đứng chờ sẵn. Xế trưa khi cả trăm người tù vào lại trong thành cùng mấy thùng cá và cùng lúc 2 cánh cửa thành khép lại là chúng tôi a nhau xuống hồ. Lúc này tiếng ồn ào huyên náo của dân lại còn gấp mấy lần lúc sáng. Những tốp nhỏ người chia nhau từng lô tát thật cạn nước để mò cá. Có đứa mò thật tài chỉ chút chi là được mấy con tràu to bằng cán rựa. Có đứa giỏi hơn bắt được cả mấy con lươn dài ngùng ngoằn vàng hươm. Tôi sợ nhất mấy con rô hay con hẽn (cá trê) cái ngạnh, cái kỳ của chúng nhọn hoắt làm chảy cả máu tay. Lớp bùn dày của hồ này nó còn tiềm ẩn bao nhiêu con cá chưa bắt được nhưng nó không thoát được những bàn tay mò cá giỏi cùng tính chịu khó. Bà con trong xóm a nhau tới coi con cá tràu to nhất nó bị quăng ngay lê bờ vì nếu để nó vùng vằng lâu sẽ truột khỏi tay và trốn thoát dưới bùn. Lại thằng Mẹo hắn việc chi không rành, con tràu to nhất là của nó; sau khi quăng con tràu lên bờ nó vọt theo đè cả người lên con cá đang vẫy vùng muốn thoát lại xuống hồ. Nói chung cá và hồ là sở hữu của Thành người dân không có quyền chi, thế nhưng ngày tát cá thu nguồn lợi từ cái hồ trước mặt cửa Lao xá thì quân dân ai cũng có phần chẳng nề hà chi. Mùa khô thực sự đến thì người tù Lao xá lại ra trồng rau muống để có thêm rau cho tù ăn.

    Từ cửa Hậu trong thành ngó về hướng sông sẽ có cái chòi canh cao ngất xây từ thời Pháp nên không ai còn dùng. Cái chòi này từ An tiêm Nại cửu nhìn lên thành phố là thấy. Ngày xưa khi học lớp nhì tôi theo mấy đứa bạn con lính tráng trong thành vào thành qua cổng cửa Hữu, đứng gần cái chòi 4 cột bằng bê tông này khi nhìn thấy mấy cái thang sắt đã hoen rỉ cái còn cái mất tôi yếu vía đâu dám leo lên . Phía chân cái chòi cao này, sau này là trại gà. Có ngõ trổ ra ra đường Lê văn Duyệt có cái hồ nuôi cá Phi rồi mới leo lên đường. Qua nhà ông Đội Chức có mấy cây đào lựu lâu năm rậm rạp người ta đồn có tinh (tức là ma cái) . Dân trong thôn thêu dệt chuyện con ông Đội Chức 'điên tàng" vì "lấy tinh", thiên hạ 'thêm mắm thêm muối' rằng đêm khuya đi ngang Miếu Đôi còn nghe tiếng ru con nữa mới là rùng rợn! Nói gì thì nói ngay ngả 3 Lê văn Duyệt múi Trần hưng Đạo đối diện Miếu Đôi này ngày đó có một bãi tha ma ông bà kể lại Tây bắn tù chính trị chôn lấp ở đây. Sau này bãi tha ma thành những nấm mồ vô chủ theo ngày tháng đất đá mòn dần không ai hương khói. Ngoại trừ mấy ngôi mả bằng đá có người nói là mả Nhật thì không bị thời gian phá hoại thôi. Tôi còn nhớ cảm giác khi nào cũng "ơn ớn" mỗi lúc đi học trường Nam ngang qua Miếu Đôi và bải tha ma này. Miếu Đôi cạnh 'xóm Heo", tên xóm này người dân trong thôn tự đặt với nhau lâu ngày quen miệng thôi, sau này cũng đở sợ Miếu Đôi vì ngày rằm nhóm "THIÊN TIÊN THÁNH GIÁO" của ông Tư mô đó trên phố (nghe là bồ của bà chủ tiệm PHương Mai cạnh Mỹ phát) năng về làm lễ trong miếu này. Đi học ngang qua tôi có ghé vô miếu coi. Ông Tư lúc nào cũng giả trang làm "BÀ" cùng các bà kia phấn son lòe loẹt, tiếng 'cóc xèng xèng", tiếng ông Tư lên đồng, cùng khói hương nghi ngút làm tôi hết cả sợ khi nhìn con lân đúc nổi trên tấm bình phong trước miễu - hai con mắt "ma quái" cuả nó như đang lom lom nhìn tôi . Bà ngoại tôi có kể rằng mạ tôi ngày xưa hồi nhỏ đi theo ngoại tôi, mạ tôi đi sau ngoại tôi chợt linh tính sao nhìn vô trong miếu thấy một khuôn mặt như mặt mèo, 2 con mắt xanh lè. Mạ tôi sợ cứng cả người về nhà bà ngoại tôi vuốt tim xoa dầu "hu ba hồn bảy vía" rất lâu mạ tôi mới hoàn hồn. Từ câu chuyện ngoại kể lại nên lúc nào đi học ngang Miếu Đôi tôi cũng sợ. Nhìn mấy chùm đào lựu xum xuê trái trên mấy cành cao che phủ nóc miếu tôi chẳng 'dám thèm" cúi đầu đi thẳng.Chỉ khi qua nhà ông đại úy Đối có mấy đào tiên đo đỏ ló ra ngoài bức tường rào mới có gan kiếm vài trái thôi.

    Tiếng là "4 ngả đường thành" nhưng theo ý tôi con đường Lê văn Duyệt là vui nhất. Trước tiên vì nó có sinh hoạt của người tù ra vô hàng ngày qua cổng Lao Xá , có lính tráng ra mua bán, và phải nói đến đám HÁT BỘ tên là HOA MAI của ông ĐƯƠNG 'đóng quân lâu dài' trước mặt nhà ông Đội Chức nơi cái bãi đất làm sân bóng trong thôn. Ông Đương và đoàn Hoa Mai của ông rất nghèo, nghèo đến nỗi cả đoàn không còn tiền để về lại quê huơng xứ Quảng của ông. Lúc đầu người dân thôn tôi tức là thôn đệ tứ (đường Lê v Duyệt) còn tiên coi dần dà hết tiền khách vắng dần. Hồi đó tôi cũng mê hát bộ đoàn Hoa Mai này lắm vì suy cho cùng cón có cái thú nào hơn? Rất lâu mới có 1 đoàn chiếu phim công cộng hay rất lầu mới có đoàn cải lương trong Nam ra đây, nhưng tôi làm gì mua nỗi cái vé đắt tiền cho đoàn THủ Đô hay Hương Mùa Thu, Thanh Minh Thanh Nga dạo đó? Ông bà Đương đóng đủ vai từ Phật THÍCH CA, quan Âm thị Kính, cho đến Quan công Trương Phi ông cũng đóng tuốt. Tôi nhớ về tiếng trống cầm chầu của mấy cụ già cùng mấy dồng bạc quăng lên sân khấu thuởng cho diễn viên, bóng lom khom mấy đửa nhỏ ra lượm tiền. Đoàn Hoa Mai ở lâu quá, tài tử "đẻ thêm con" , túi tiền dân thôn tôi lâu ngày cũng cạn và sự tò mò háo hức cũng tan đi khi nhìn thấy bà bầu tức vợ ông Đương cùng những bà vợ mấy ông kép khác ngày ngày ra chợ không còn "hình dáng mỹ miều" như lúc đóng tuồng mà là những bà đào về chiều già nua đến thảm thiết. Những đêm mưa vắng khách tiếng ông Đương van nài "xin quý vị coi giúp cho đoàn tôi vì mùa đông mưa gió tội nghiệp!!!" cái buồn cái áo não thê lương của một đoàn hát "về chiều bị mắc kẹt" lại một xóm nghèo ngày xưa đó là một dấu ấn khó quên cho cuộc đời nghệ sĩ, những cảm nhận đáng thương cho những ai làm văn hóa mà cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, đáng lẽ họ phải được nâng đỡ và bảo trợ cho những công việc bảo tồn giềng mối đạo đức phong hóa cho dân tộc .

    Thời gian trôi mau, "sương gió phôi pha bóng nguyệt tà" như 1 câu xưa của Hàn Tín. Bức tường thành rêu phong phủ kín di tích Quảng trị chỉ còn đọng lại trong ký ức con người.

    Kể lại cho thế hệ sau tôi hi vọng với trí tưởng tượng phong phú của tuổi nhỏ, một THÀNH CỔ uy nghi từng mang tên danh tướng Đinh công Tráng sẽ hiển hiện lên cùng thanh âm của tiền nhân trong dĩ vãng .

    CALI ngày 6 tháng 11 năm 2011
    Đinh trọng Phúc

Chia sẻ trang này